Diễn biến khí hậu ba tháng: II. III. IV.



Thứ tư - 06/06/2012 07:46
a- Nhiệt độ Trong 3 tháng II, III, IV 2012, nhiệt độ trung bình (NĐTB) từ 14,5 đến 29oC (Bảng 1), vượt chuẩn từ 0 đến lớn hơn 1oC ở hầu khắp diện tích nước ta; hụt chuẩn từ 0 đến gần 0,5oC xảy ra ở một phần nhỏ khu vực ven biển Bắc Bộ và khu vực Quảng Trị, Thừa Thiên Huế ( Hình 5a). NĐTB tháng IV/2012 dao động từ cao hơn 18,5 đến gần 29,5oC; vượt chuẩn chủ yếu từ 0 đến 2,5oC ở phần lớn diện tích nước ta, trong đó hầu hết diện tích ở phía Bắc (từ Quảng Trị trở ra) có chuẩn sai của NĐTB từ lớn hơn 1 đến 2,5oC; hụt chuẩn từ 0 đến cao hơn 1oC xảy ra trên đại bộ phận diện tích Tây Nguyên và phần lớn diện tích Nam Bộ (Hình 5b).

Hình 5: Phân bố chuẩn sai nhiệt độ trung bình 3 tháng (a) và tháng IV(b) (Xem hình 5)

Nhiệt độ tối cao trung bình (NĐTCTB) trong 3 tháng qua dao động từ từ gần 20đến lớn hơn 34,5oC, vượtchuẩn từ 0 đến trên 1oC ở hầu hết diện tích phía Bắc (từ Bắc Quảng Bình trở ra), khu vực ven biển từ Đà Nẵng đến Quảng Ngãi và đa phần diện tích Nam Bộ; riêng ở Sa Pa (Lào Cai) có chuẩn sai NĐTCTB cao hơn: 1,9oC.NĐTCTBhụt chuẩn từ 0 đến trên 1oC xảy ra trên đa phần diện tích phía Nam (từ Nam Quảng Bình trở vào).NĐTCTB tháng IV/2012từ lớn hơn 24đến trên 35oC, vượt chuẩn từ 0 đến trên 4oC ở phía Bắc (từ Quảng Ngãi trở ra); trong đó đại bộ phận diện tíchtừ Hà Tĩnh trở ra có chuẩn sai từ 2trên 4oC; nhiệt độ hụt chuẩn từ 0 đến 1,5oC xảy ra trênhầu khắp diện tích ở phía Nam (từ Bình Định trở vào).

Nhiệt độ tối thấp trung bình (NĐTTTB) trong 3 tháng  II, III, IV năm 2012 từ nhỏ hơn 11,5 đếnxấp xỉ 26oC (Bảng 3), vượt chuẩn từ 0 đến trên 2oC ở hầu hếtdiện nước ta; hụt chuẩn từ 0 đến gần 0,5oC ở một vài nơi thuộc phía Bắc lãnh thổ. NĐTTTB tháng IV/2012 từ 15 đến trên 26,5oC, nhiệt độ vượt chuẩn từ 0 đến lớn hơn 2oC xảy ra ở hầu khắp diện tích nước ta, hụt chuẩn từ 0 đến 1oC ở một vài khu vực nhỏ thuộc phía Nam lãnh thổ.

Nhiệt độ tối cao tuyệt đối (NĐTCTĐ) 3 tháng II, III, IVnăm 2012từ trên 27đến 42oC, thấp hơn số liệu lịch sử từnhỏ hơn0,5đếntrên 5oC (Bảng 4).Trị số cao nhất của NĐTCTĐ 3 tháng qua là 42oC xảy ra tại Quỳ Châu(Nghệ An) vào ngày 25/IV.NĐTCTĐ và trị số cao nhất của NĐTCTĐ tháng IV/2012 tương tự như đã nêu ở 3 tháng.

Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối (NĐTTTĐ) 3 tháng qua dao động từ gần 4đến xấp xỉ 23oC, cao hơn số liệulịch sử từ 4đến lớn hơn 8oC (Bảng 4).Trị số thấp nhất của NĐTTTĐ 3 tháng qua là 3,9oC xảy ra vào ngày 28/II tại Sa Pa (Lào Cai).NĐTTTĐ tháng IV/2012dao động từ 8 đến gần 23,5oC, cao hơn số liệu lịch sử từ gần 1,5 đến 10oC. Trị số thấp nhất của NĐTTTĐ trong tháng IV/2012là 8oCcũng xảy ra ở Sa Pa (Lào Cai) vào ngày 01.

    

 

b- Mưa

Tổng lượng mưa (TLM) ở nước ta trong 3 tháng II, III, IV năm 2012có phân bố như sau:trên hầu hết diện tích phía Bắc (từ Đà Nẵng trở ra) có TLM dao động từ 50 đến 200mm; đại bộ phận diện tích ở phía Nam (từ Quảng Nam trở vào) có TLM dao động từ 200 đến lớn hơn 400mm (Hình 6). Nơi có lượng mưa cao nhất là Đắc Nông: 562mm, tiếp sau là ởBảo Lộc (Lâm Đồng): 549mm. Nơi có lượng mưa nhỏ nhất là ở Quỳ Châu (Nghệ An): 47mm, tiếp đến là ởTây Ninh: 48mm. 

Hình 6: Phân bố lượng mưa 3 tháng (Xem hình 6)

Lượng mưa 3 tháng qua hụt chuẩn với tỷ chuẩn từ dưới 50 đến nhỏ hơn 100% ở hầu khắp diện tích phía Bắc (từ Đà Nẵng trở ra). Lượng mưa vượtchuẩn với tỷ chuẩn chủ yếu từ 100 đếntrên200%xảy ra trên hầu hết diện tích phía Nam (từ Quảng Nam trở vào - Hình 7a).Nơi có lượng mưa vượt chuẩn cao nhất là ở Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu): 884,4%, tiếp sau là ở Cần Thơ: 551,4%.Nơi có lượng mưa hụt chuẩn nhiều nhất là Tây Ninh:34,8% và Quỳ Châu (Nghệ An): 36,0%,

Trong tháng IV/2012, trên hầu hết diện tích phía Bắc (từ Quảng Ngãi trở ra) có TLM nhỏ hơn 100mm (Bảng 5). Khu vực Tây Bắc và đại bộ phận diện tích phía Nam (từ Bình Định trở vào) có TLM từ 100 đến lớn hơn 200mm. Nơi có lượng mưa cao nhất là ở Đồng Phú và Phước Long (Bình Phước): 353mm và 327mm; thấp nhất là Tây Hiếu và Quỳ Châu (Nghệ An): 8mm và 13mm.

Hình 7: Phân bố tỷ chuẩn lượng mưa 3 tháng (a) và tháng IV (b) (Xem hình 7)

 

 

 

 

Lượng mưa tháng IV/2012 vượt chuẩn với tỷ chuẩn từ 100 đến lớn hơn 200% xảy ra trên hầu hết diện tích phía Nam (từ Quảng Bình trở vào). Lượng mưa hụt chuẩn từ nhỏ hơn 50 đến dưới 100% tại hầu khắp diện tích phía Bắc (từ Hà Tĩnh trở ra - Hình 7b). Nơi có lượng mưa vượtchuẩn nhiều nhất là Vũng Tàu (Bà Rịa – Vũng Tàu): 811,1%, Quy Nhơn (Bình Định): 557,0%; Nha Trang (Khánh Hòa): 521,0%. Nơi có lượng mưa hụt chuẩn nhiều nhất là ở Tây Hiếu và Quỳ Châu (Nghệ An): 11,4% và 14,5%.

Số ngày mưa (SNM) trong 3 tháng II, III, IV năm 2012 hụt chuẩn từ 1 đến lớn hơn 15 ngày ở hầu hết diện tích phía Bắc (từ Thừa Thiên Huế trở ra). SNM vượt chuẩn chủ yếu từ 1 đến nhỏ hơn 15 ngày ở hầu khắp diện tích phía Nam (từ Đà Nẵng trở vào - Bảng 6). Phân bố của chuẩn sai SNM trong tháng IV/2012 tương tự như ở 3 tháng với SNM vượt chuẩn chủ yếu từ 1 đến lớn hơn 5 ngày và SNM hụt chuẩn chủ yếu từ 1 đến trên 10 ngày.

Lượng mưa ngày lớn nhất (LMNLN) 3 tháng quaphổ biến từtrên 25 đến 80mm (Bảng 7). Trị số lớn nhất đo được là 206mm tại Vũng Tàu vào ngày 01/IV. LMNLN tháng IV/2012 phổ biến từ 10 đến 70mm. Trị số lớn nhất của LMNLN tháng IV chính là trị số đã nêu ở 3 tháng.

c-       Nắng

  Trong 3 tháng II, III, IV năm 2012 tổng số giờ nắng (TSGN) ở nước ta có phân bố như sau: ở phía Bắc (từ Thừa Thiên Huế trở ra) có TSGN nhỏ hơn 400 giờ; khu vực Tây Bắc và ở phía Nam (từ Quảng Nam trở vào) có TSGN dao động từ 400 đến lớn hơn 700 giờ (Hình 8). Nơi có TSGN cao nhất là ởPhan Thiết (Bình Thuận): 791 giờ, tiếp sau là Bạc Liêu: 788 giờ. TSGN thấp nhất là tại Cửa Ông và Bãi Cháy (Quảng Ninh): 104 giờ và 105 giờ. TSGN hụt chuẩn từ 0 đến lớn hơn 240 giờ trên đại bộ phận diện tích lãnh thổ; vượt chuẩn từ 0 đến trên 65 giờ ở phần lớn diện tích Tây Bắc, Việt Bắc và Tây Nghệ An. Tháng IV/2012, ở phía Bắc (từ Quảng Nam trở ra) có TSGN dao động từ 100 đến 200 giờ. Tây Bắc và ở phía Nam (từ Quảng Ngãi trở vào) có TSGN lớn hơn 200 giờ. TSGN vượt chuẩn từ 1 đến gần 90 giờ trên đa phần diện tích nước ta; hụt chuẩn từ 1 đến trên 35 giờ ở một phần diện tích Trung Trung Bộ, phần lớn diện tích Tây Nguyên và Nam Bộ.

Hình 8: Phân bố tổng số giờ nắng 3 tháng (Xem hình 8)

 

d-    Bốc hơi và chỉ số ẩm

 

Tổng lượng bốc hơi (TLBH) trong 3 tháng II, III, IV năm 2012 hụt chuẩn từ 1 đến 280mm xảy ra trên đa phần diện tích nước ta; vượt chuẩn từ 1 đến lớn hơn 60mm xảy ra ở đa phần diện tích Bắc Bộ và một phần diện tích thuộc Trung và Nam Trung Bộ (Bảng 9).

Tỷ số giữa TLM và TLBH gọi là chỉ số ẩm K, K < 1 ứng với điều kiện thiếu hụt ẩm, K > 1 ứng với điều kiện dư thừa ẩm. Trong 3 tháng qua, trên đa phần diện tích nước ta có K < 1; phần lớn diện tích Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên có K dao động từ 1 đến trên 2 (Hình 9). Chỉ số K lớn nhất trong 3 tháng qua là ở Bảo Lộc (Lâm Đồng): 2,86, tiếp sau là ở Đắc Nông: 2,69; K nhỏ nhất là ở Tây Ninh: 0,13 và tiếp sau là ở Cò Nòi (Sơn La): 0,21.

 

Hình 9: Phân bố chỉ số ẩm 3 tháng (Xem hình 9)

 

 

e-      Một số hiện tượng khí tượng đặc biệt

Không khí lạnh (KKL).Trongba tháng  II, III, IV/2012 có 10 đợt KKL: tháng II có 5 đợt, tháng III có 3 đợt (chi tiết đã được trình bày trong các bản Thông báo và Dự báo khí hậu (TB&DBKH)) trước) và tháng IV có 2 đợt KKL xảy ra vào các ngày 20 và 25 gây ra dông, lốc xoáy và mưa đá ở một số tỉnh thuộc Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.

Bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ). Có 1 ATNĐ và 1 cơn bão hoạt động trên Biển Đông vào tháng II và III (chi tiết đã được trình bày trong bản TB&DBKH trước).

Nắng nóng. Trong ba tháng II, III, IV/2012 có 4 đợt nắng nóng xảy ra trên phạm vi cả nước: tháng III có 1 đợt và tháng IV có 3 đợt. Đợt từ ngày 15 - 19/IV xảy ra nắng nóng cục bộ ở phía Tây Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Nam Bộ với nhiệt độ cao nhất phổ biến 35 – 36oC. Từ ngày 24 -25/IV xảy ra nắng nóng gay gắt ở các tỉnh Bắc Bộ, Bắc và Trung Trung Bộ với nhiệt độ cao nhất phổ biến là 38 – 39oC. Từ ngày 28/IV đến ngày 4/V xảy ra nắng nóng diện rộng ở Bắc Bộ, Bắc và Trung Trung Bộ với nhiệt độ cao nhất phổ biến 37 – 39oC.

Mưa lớn và lũ quét. Trong ba tháng II, III và IV/2012 có 5 đợt mưa lớn xảy ra: tháng II có 1 đợt, tháng III có 3 đợt (chi tiết đã được trình bày trong bản TB&DBKH trước) và tháng IV có 1 đợt mưa lớn xảy ra từ ngày 26 - 27/IV ở Đà Lạt (Lâm Đồng) gây ngập lụt ở một số khu vực dân cư và làm sạt lở đường.

Dông, lốc xoáy,mưa đá. Có 22 trận dông, lốc xoáy và mưa đá xảy ra: tháng III có 2 đợt và tháng IV có 20 đợt. Các trận dông lốc, mưa đá trong tháng IV xảy ra ở: Yên Bái (ngày 26); Lào Cai (ngày 20); Tuyên Quang (ngày 21); Hà Giang (ngày 19, 20); Cao Bằng (ngày 20, 25); Bắc Kạn (ngày 20, 21, 23); Quảng Ninh (ngày 20); Thanh Hóa (ngày 19); Nghệ An (ngày 19,  21); Quảng Bình(ngày 13); BaTơ - Quảng Ngãi (ngày 18); Thành phố Hồ Chí Minh (ngày 30); Đồng Tháp, An Giang và Long Xuyên (ngày 15).

Sương mù. Trong 2 tháng II và III, sương mù dày vào đêm và sáng sớm đã xuất hiện ở nhiều nơi thuộc vùng núi phía Bắc, ven biển Bắc Bộ và Trung Bộ. Sương mù ảnh hưởng đến giao thông và làm hàng chục chuyến bay bị chậm trễ.

 

f-       Tình hìnhthiệt hại dothiên tai cónguồn gốc khí tượng thuỷ văn

                Trong 3 tháng II, III, IV năm 2012, lốc xoáy đã làm 4 người chết, 30 người bị thương; gần 17.000 ngôi nhà sập, tốc mái và hư hỏng; gần 37.000 ha lúa, cây hoa màu bị thiệt hại và nhiều thiệt hại khác. Thiệt hại ước tính trên 106,2 tỷ đồng.

 

Tóm lại, qua những phân tích ở trên có thể rút ra một số nhận xét chính về diễn biến của khí hậu 3 tháng II, III, IV năm 2012:

-  Trên khu vực xích đạo Thái Bình Dương (TBD), các điều kiện khí quyển và đại dương đang chuyển dần về trạng thái trung gian của ENSO.Hoạt động của gió mùa mùa đông giảm dần và suy yếu mạnh vào nửa cuối tháng IV; gió mùa mùa hè đã có dấu hiệu bắt đầu hoạt động vào tháng IV;

 - Nhiệt độ không khí trung bình vượt chuẩn từ 0 đến lớn hơn 1oC ở hầu khắp diện tích nước ta; hụt chuẩn từ 0 đến gần 0,5oC xảy ra ở một phần nhỏ khu vực ven biển Bắc Bộ và khu vực Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.Lượng mưa 3 tháng qua hụt chuẩn với tỷ chuẩn từ dưới 50 đến nhỏ hơn 100% ở hầu khắp diện tích phía Bắc (từ Đà Nẵng trở ra);vượtchuẩn với tỷ chuẩn chủ yếu từ 100 đếntrên200%xảy ra trên hầu hết diện tích ở phía Nam (từ Quảng Nam trở vào);

- Có 2XTNĐ hoạt động trên Biển Đông trong 3 tháng qua, cao hơn trung bình chuẩn cùng thời kỳ khoảng 2 cơn.Có 1XTNĐ ảnh hưởng đến Việt Nam, cao hơntrung bình chuẩn cùng thời kỳ khoảng 1 cơn;

- Có 10đợt KKL ảnh hưởng tới Việt Nam trong 3 tháng qua, cao hơntrung bình cùng thời kỳ khoảng 1 đợt.


 

Danh sách các tệp tin đính kèm

 Các tệp tin kèm theo   Tải về 
Bảng số liệu
TBDBKH full
Người đăng tin: Nguyễn Văn Huấn
Nguồn tin: Theo Viện khoa học KTTV&MT
 
Website trạm đo mưa tự động

Liên kết

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 15
  • Hôm nay: 13622
  • Tháng hiện tại: 127724
  • Tổng lượt truy cập: 13342890

Thành phố lớn trên thế giới

Mực nước hiện tại - Cấp báo động

Dự báo liên hồ chứa