Diễn biến khí hậu tháng VI,VII,VIII, và Dự báo Khí hậu tháng X,XI,XII ở Việt Nam



Thứ tư - 19/10/2011 13:33
I. DIỄN BIẾN KHÍ HẬU THÁNG VI, VII, VIII a- Nhiệt độ Trong 3 tháng VI, VII, VIII năm 2011, nhiệt độ trung bình (NĐTB) từ trên 19 đến xấp xỉ 30,5oC (Bảng 1), vượt chuẩn từ 0 đến lớn hơn 1oC ở hầu khắp diện tích nước ta; hụt chuẩn từ 0 đến 0,5oC xảy ra ở một vài nơi thuộc phía Bắc lãnh thổ (Hình 5a). NĐTB tháng VIII/2011 dao động từ gần 19 đến lớn hơn 30oC, vượt chuẩn từ 0 đến cao hơn 1oC ở phần lớn diện tích cả nước; hụt chuẩn từ 0 đến gần 1oC ở một phần nhỏ diện tích Bắc Bộ và hầu hết diện tích khu vực từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế (Hình 5b).

 

 

Hình 5: Phân bố chuẩn sai nhiệt độ trung bình 3 tháng (a) và tháng V (b) (Xem hình 5)

Nhiệt độ tối cao trung bình (NĐTCTB) trong 3 tháng qua dao động từ xấp xỉ 23 đến 35oC (Bảng 2), vượt chuẩn từ 0 đến trên1oC ở đại bộ phận diện tích nước ta, riêng tại Sông Mã (Sơn La) có chuẩn sai cao hơn: 1,6oC; hụt chuẩn từ 0 đến gần 1oC xảy ra ở một phần diệntích Trung Bộ. NĐTCTB tháng VIII/2011 từ dưới 22,5 đến lớn hơn 35oC, vượt chuẩn từ 0 đến trên 1oC ở đa phần diện tích nước ta, riêng tại Tân Sơn Hòa (TP. Hồ Chí Minh) có chuẩn sai cao nhất: 2oC và Sông Mã: 1,8oC; nhiệt độ hụt chuẩn từ 0 đến 1oC trên hầu hết diện tích khu vực Bắc Trung Bộ.

Nhiệt độ tối thấp trung bình (NĐTTTB) trong 3 tháng  VI, VII, VIII năm 2011 từ cao hơn 16,5 đến 28oC (Bảng 3), vượt chuẩn từ 0 đến lớn hơn 1oC ở hầu khắp diện tích nước ta; hụt chuẩn từ 0 đến gần 0,5oC ở một vài nơi trên lãnh thổ. NĐTTTB tháng VIII/2011 từ 16,5 đến nhỏ hơn 28oC, vượt chuẩn từ 0 đến 1oC ở đại bộ phận diện tích nước ta; hụt chuẩn từ 0 đến 1oC xảy ra ở một phần diện tích Bắc Bộ và khu vực tỉnh Quảng Bình.  

Nhiệt độ tối cao tuyệt đối (NĐTCTĐ) 3 tháng VI, VII, VIII năm 2011 từ trên 26 đến cao hơn 39,5oC, thấp hơn số liệu lịch sử từ trên 1 đến lớn hơn 4,5oC (Bảng 4). Trị số cao nhất của NĐTCTĐ 3 tháng qua là 39,6oC xảy ra tại Như Xuân (Thanh Hóa) vào ngày 7/VII/2011. NĐTCTĐ tháng VIII/2011 từ 25,5 đến 38,5oC, thấp hơn số liệu lịch sử từ nhỏ hơn 0,5 đến cao hơn 4,5oC (Bảng 4). Trị số cao nhất của NĐTCTĐ tháng VIII/2011 là 38,5oC xảy ra ở Bảo Lạc (Cao Bằng) vào ngày 31 và Hoài Nhơn (Bình Định) vào ngày 5.

Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối (NĐTTTĐ) 3 tháng qua dao động trong khoảng từ nhỏ hơn 14 đến xấp xỉ 24,5oC, cao hơn số liệulịch sử từ 1,5 đến 7oC (Bảng 4). Trị số thấp nhất của NĐTTTĐ 3 tháng qua là 13,8oC xảy ra vào ngày 26/VIII/2011 tại Sa Pa (Lào Cai). NĐTTTĐ tháng VIII/2011 có phân bố tương tự như ở 3 tháng, cao hơn số liệu lịch sử từ trên 0,5 đến nhỏ hơn 5,5oC. Trị số thấp nhất của NĐTTTĐ trong tháng VIII/2011 chính là trị số đã nêu ở 3 tháng.

b-Mưa

Tổng lượng mưa(TLM) ở nước ta trong 3 tháng VI, VII, VIII năm 2011 có phân bố như sau:trên đại bộ phậndiện tíchnước ta có TLM trên 400mm, trong đó một phần diện tích Bắc Bộ, khu vực Thanh Hóa – Nghệ An, Tây Nguyên và một phần diện tích Nam Bộ có TLM dao động từ 800 đến lớn hơn 1000mm; hầu hết diện tích khu vực từ Quảng Bình đến Khánh Hòa có TLM dao động từ 100 đến 400mm (Hình 6). Nơi có TLM lớn nhất trong 3 tháng qua là Bắc Quang (Hà Giang): 1810mm; tiếp đến là Đồng Phú (Bình Phước): 1270mm; nhỏ nhất là ở Tuy Hòa (Phú Yên): 73mm, tiếp sau là ở Hoài Nhơn (Bình Định): 110mm.  

Hình 6: Phân bố lượng mưa 3 tháng (Xem hình 6)

 Lượng mưa 3 tháng qua hụt chuẩn với tỷ chuẩn từ thấp hơn 50 đến nhỏ hơn 100% ở phần lớn diện tích nước ta. Lượng mưa vượt chuẩn với tỷ chuẩn từ 100 đến lớn hơn 150% trên khu vực từ Hòa Bình đến Nghệ An, đa phần diện tích Tây Nguyên, khu vực từ Khánh Hòa đến Ninh Thuận và đa phần diện tích Nam Bộ (Hình 7a). Nơi có lượng mưa vượt chuẩn cao nhất là ở Mộc Hóa (Long An): 187,74%, tiếp sau là ở Nha Trang (Khánh Hòa): 171,6%. Nơi có lượng mưa hụt chuẩn nhiều nhất là ở Đồng Hới (Quảng Bình): 34,6%, tiếp đến là ở Hoài Nhơn: 40,5% .

 Trong tháng VIII/2011, trên đa phần diện tích nước ta có TLM dao động từ 200 đến 400mm (Bảng 5), một phần diện tích Bắc Bộ, hầu hết diện tích khu vực từ Nghệ An đến Bà Rịa – Vũng Tàu có TLM nhỏ hơn 200mm. Nơi có lượng mưa cao nhất trong tháng là ở Rạch Giá (Kiên Giang): 463mm, tiếp sau là ở Sóc Trăng: 423mm; thấp nhất là ở Hoài Nhơn (Bình Định): 10mm và tiếp đến là ở Tuy Hòa (Phú Yên): 22mm.

Hình 7: Phân bố tỷ chuẩn lượng mưa 3 tháng (a) và tháng V (b) (Xem hình 7)

 

 

 

Lượng mưa tháng VIII/2011 hụt chuẩn với tỷ chuẩn phổ biến từ dưới 50 đến nhỏ hơn 100% ở đại bộ phận diện tích nước ta. Lượng mưa vượt chuẩn từ 100 đến lớn hơn 200% xảy ra ở Quảng Nam, Đắc Lắc, Khánh Hòa và đa phần diện tích Tây Nam Bộ (Hình 7b). Nơi có lượng mưa vượtchuẩn nhiều nhất là ở Nha Trang (Khánh Hòa): 252,9%, tiếp đến là Mộc Hóa (Long An): 152,4%; nơi có lượng mưa hụt chuẩn nhiều nhất là Hoài Nhơn (Bình Định): 9,4% và Vinh (Nghệ An): 18,2%.

Số ngàymưa (SNM) trong 3 tháng VI, VII, VIII năm 2011 vượt chuẩn chủ yếu từ 1 đến 10 ngày ở đa phần diện tích nước ta (Bảng 6). SNM hụt chuẩn chủ yếu từ 1 đến trên 10 ngày trên đa phần diện tích Bắc Bộ, khu vực từ Đà Nẵng đến Quảng Ngãi, Đắc Nông và đa phần diện tích Nam Bộ. SNM trong tháng VIII/2011 hụt chuẩn chủ yếu từ 1 đến 5 ngày xảy ra trên đa phần diện tích cả nước. SNM vượt chuẩn từ 1 đến 5 ngày xảy ra ở phần lớn diện tích Trung Bộ, một phần diện tích thuộc Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.

Lượng mưa ngày lớn nhất (LMNLN) 3 tháng quaphổ biến từ50 đến 140mm (Bảng 7). Trị số lớn nhất đo được là 339mm tại Mường Tè (Lai Châu) vào ngày 30/VI/2011. LMNLN tháng VIII/2011 phổ biến từ 30 đến 80mm. Trị số lớn nhất của LMNLN tháng VIII đo được là 134mm tại Phú Hộ (Phú Thọ) vào ngày 24.

c-Nắng

  Trong 3 tháng VI, VII, VIII năm 2011, tổng số giờ nắng (TSGN) ở nước ta có phân bố như sau: trên đa phần diện tích cả nước có TSGN trên 500 giờ, trong đó khu vực ven biển từ Bình Định đến Khánh Hòa có TSGN lớn hơn 700 giờ; phần lớn diện tích Bắc Bộ, đa phần diện tích Tây Nguyên và bán đảo Cà Mau có TSGN dao động từ 400 đến 500 giờ (Hình 8). Nơi có TSGN cao nhất là ởNha Trang (Khánh Hòa): 837 giờ, tiếp sau là ở Quy Nhơn (Bình Định): 782 giờ; thấp nhất là ởSa Pa (Lào Cai): 320 giờ, tiếp đến là ở Mù Cang Chải (Yên Bái): 352 giờ. TSGN vượt chuẩn từ 1 đến lớn hơn 130 giờ trên phần lớn diện tích nước ta; hụt chuẩn từ 1 đến trên 100 giờ xảy ra ở một phần diện tích Bắc Bộ, khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Ngãi, Bắc Tây Nguyên và một phần nhỏ diện tích Tây Nam Bộ. Tháng VIII/2011, trên đa phần diện tích nước ta có TSGN từ 150 đến 200 giờ, khu vực Nam Trung Bộ và đa phần diện tích Nam Bộ có TSGN trên 200 giờ. TSGN vượt chuẩn chủ yếu từ 1 đến trên 70 giờ xảy ra ở đại bộ phận diện tích cả nước; hụt chuẩn từ 1 đến trên 50 giờ xảy ra ở một vài nơi thuộc Bắc Bộ, đa phần diện tích từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế.

Hình 8: Phân bố tổng số giờ nắng 3 tháng (Xem hình 8)

d-Bốc hơi và chỉ số ẩm

 Tổng lượng bốc hơi (TLBH) trong 3 tháng VI, VII, VIII năm 2011 vượt chuẩn từ 1 đến lớn hơn 100mm ở phần lớn diện tích nước ta; hụt chuẩn từ 1đến trên 95mm xảy ra chủ yếu ở một phần diện tích Bắc Bộ và Tây Nguyên (Bảng 9).

Tỷ số giữa TLM và TLBH gọi là chỉ số ẩm K, K < 1 ứng với điều kiện thiếu hụt ẩm, K > 1 ứng với điều kiện dư thừa ẩm. Trong 3 tháng qua, trên đại bộ phận diện tích nước ta có K dao động từ 1 đến trên 4; K nhỏ hơn 1 xảy ra trên khu vực ven biển Trung Bộ, từ Quảng Bình đến Phú Yên (Hình 9). Chỉ số K lớn nhất trong 3 tháng qua là ở Plâycu (Gia Lai): 9,82, tiếp sau là ở Bắc Quang (Hà Giang): 9,19; K nhỏ nhất là ở Tuy Hòa (Phú Yên): 0,14 và Quy Nhơn (Bình Định): 0,26.

Hình 9: Phân bố chỉ số ẩm 3 tháng (Xem hình 9)

  •   Một số hiện tượng khí tượng đặc biệt

Bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ). Trong 3 tháng qua có 4 XTNĐ hoạt động trên Biển Đông xảy ra vào tháng VI và tháng VII (chi tiết đã được trình bày trong các bản thông báo và dự báo khí hậu (TB&DBKH) trước).

            Mưa lớn. Trong ba tháng VI, VII, VIII xảy ra 22 đợt mưa lớn và lũ quét: tháng VI có 5 đợt, tháng VII có 8 đợt (chi tiết đã được trình bày trong các bản TB&DBKH trước) và tháng VIII có 9 đợt. Các đợt mưa trong tháng VIII xảy ra như sau: tại Hà Nội có 2 đợt mưa lớn vào ngày mùng 2 và ngày mùng 8; đợt mưa lớn từ đêm 14 đến rạng sáng ngày 15 đã gây lũ cục bộ tại Văn Yên và Lục Yên (Yên Bái); chiều tối ngày 16, mưa lớn diện rộng xảy ra trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh gây ngập và ùn tắc giao thông; mưa lớn kéo dài từ ngày 21 đến ngày 22 đã gây lũ tại Tánh Linh (Bình Thuận) và Ninh Sơn (Ninh Thuận); chiều tối 23 mưa lớn diện rộng xảy ra trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai, gây ngập lụt nhiều nơi trong thành phố; đêm 23 rạng ngày 24 đã xảy ra mưa lớn kèm lốc tại hai tỉnh Yên Bái và Phú Thọ; mưa lớn xuất hiện vào chiều tối 24 gây ra lũ quét trên địa bàn huyện Kỳ Sơn (Nghệ An); do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam, trong hai ngày từ 28 đến ngày 29, trên huyện đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang có mưa lớn kèm dông.

Dông lốc và mưa đá.3 tháng qua có 13 trận dông lốc và mưa đá: tháng V có 15 trận, tháng VI có 5 trận, tháng VII có 6 trận (chi tiết đã được trình bày trong các bản TB&DBKH trước) và tháng VIII có 2 trận xảy ra vào tối mùng 1 tại huyện Tân Hưng và Vĩnh Hưng (Long An) và rạng sáng ngày 24 tại tỉnh Yên Bái và Phú Thọ.

Nắng nóng.Trong 3 tháng qua có 6 đợt nắng nóng: tháng VI có 01 đợt, tháng VII có 02 đợt (chi tiết đã được trình bày trong TB&DBKH trước) và tháng VIII có 03 đợt: đợt nắng nóng từ ngày mùng 4 đến ngày 6 xảy ra ở các tỉnh miền Bắc; đợt nắng nóng từ ngày 8 đến ngày 17 xảy ra ở các tỉnh từ Đà Nẵng đến Bình Thuận (các tỉnh Bắc Bộ nắng nóng chỉ xảy ra từ ngày 14 đến ngày 16); đợt nắng nóng từ ngày 28 đến ngày 31 xảy ra ở Bắc Bộ và các tỉnh ven biển Trung Bộ. Các đợt nắng nóng trong tháng VIII không gay gắt lắm, nhiệt độ cao nhất phổ biến từ 35 - 36oC.

  • Tình hìnhthiệt hại dothiên tai cónguồn gốc khí tượng thuỷ văn

                Trong 3 tháng VI, VII, VIII/2011, thiên tai đã làm 36 người chết, 145 người bị thương; trên 4.500 ngôi nhà bị sập, tốc mái và hư hỏng; trên 46.000 ha lúa, hoa màu bị hư hỏng, dập nát,…và nhiều thiệt hại khác. Tổng thiệt hại ước tính trên 1.090,8 tỷ đồng.

Tóm lại, qua những phân tích ở trên có thể rút ra một số nhận xét chính về diễn biến của khí hậu 3 tháng VI, VII, VIII năm 2011:

-  Trên khu vực xích đạo Thái Bình Dương, trạng thái trung gian của ENSO đã tồn tại trong 3 tháng qua. Hoạt động của gió mùa mùa đông đã chấm dứt; hoạt động của gió mùa mùa hè khá mạnh;

             - Nhiệt độ không khí trung bình vượt chuẩn từ 0 đến lớn hơn 1oC ở hầu khắp diện tích nước ta; hụt chuẩn từ 0 đến 0,5oC xảy ra ở một vài nơi thuộc phía Bắc lãnh thổ. Lượng mưa hụt chuẩn với tỷ chuẩn từ thấp hơn 50 đến nhỏ hơn 100% ở phần lớn diện tích nước ta; vượt chuẩn với tỷ chuẩn từ 100 đến lớn hơn 150% trên khu vực từ Hòa Bình đến Nghệ An, đa phần diện tích Tây Nguyên, khu vực từ Khánh Hòa đến Ninh Thuận và đa phần diện tích Nam Bộ;

- Có 4 XTNĐ hoạt động trên Biển Đông trong 3 tháng qua, thấp hơn trung bình chuẩn cùng thời kỳ khoảng 1 cơn. Có 2 XTNĐ ảnh hưởng đến Việt Nam, cũng thấp hơn trung bình cùng thời kỳ khoảng 1 cơn.

- Không có đợt KKL nào ảnh hưởng tới Việt Nam trong 3 tháng qua, thấp hơn trung bình cùng thời kỳ khoảng 1 đợt.

 Danh sách các tệp tin đính kèm

 Các tệp tin kèm theo   Tải về 
Bảng số liệu
Full paper

II. DỰ BÁO KHÍ HẬU THÁNG X,XI,XII

  • Kết quả dự báo khí hậu của các mô hình dự báo nhiệt độ và lượng mưa 3 tháng X, XI, XII năm 2011 cho Việt Nam (thực hiện vào tháng IX/2011 tại Trung tâm Nghiên cứu khí tượng - khí hậu, Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường) được trình bày trên các Hình 16, 17 và Bảng 11.
  • Nhiệt độ

Kết quả dự báo nhiệt độ 3 tháng X, XI, XII năm 2011 cho thấy, khả năng hụt chuẩn của nhiệt độ có thể xảy ra ở Điện Biên, Lào Cai, Tây Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Đắk Nông, Bình Phước, Đồng Tháp và Kiên Giang với xác suất từ 66 đến 77% (Hình 16a). Nhiệt độ có khả năng cận chuẩn đáng chú ý xảy ở Sơn La, Yên Bái, Lạng Sơn, Thanh Hóa và Cần Thơ với xác suất khoảng 66% (Hình 16b). Khả năng vượt chuẩn của nhiệt độ có thể xảy ra ở Hà Giang, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Kon Tum, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Long An  với xác suất từ 66 đến 77% (Hình 16c). Chuẩn sai của nhiệt độ chủ yếu dao động từ -0,5 đến 0,5oC trên hầu hết diện tích cả nước (Hình 16d).

Hình 16: Dự báo xác suất (a,b,c) và chuẩn sai (d) nhiệt độ 3 tháng X, XI, XII năm 2011 (Xem hình 16a, b hình 16c, d)

  • Lượng mưa

Trong ba tháng tới, khả năng hụt chuẩn của lượng mưa có thể xảy ra ở Bắc Tây Bắc, Cao Bằng, Bắc Cạn, Bắc Ninh, Hải Dương, Bình Định, Đắk Lắk, Lâm Đồng và Tây Ninh với xác suất từ 66 đến 77% (Hình 17a). Lượng mưa có khả năng cận chuẩn đáng chú ý nhất là ở Lạng Sơn và Thanh Hóa với xác suất từ 66 đến 77% (Hình 17b). Khả năng vượt chuẩn của lượng mưa có thể xảy ra ở đa phần diện tích cả nước với xác xuất từ 66 đến 77% (Hình 17c). Chuẩn sai của lượng mưa dao động chủ yếu từ 0 đến 200 mm trên đa phần diện tích cả nước,  riêng khu vực Trung Trung Bộ lượng mưa có khả năng vượt chuẩn với chuẩn sai dao động từ 200 đến 600mm(Hình 17d).

Hình 17: Dự báo xác suất (a,b,c) và chuẩn sai (d) lượng mưa 3 tháng X, XI, XII năm 2011 (Xem hình 17a, b hình 17c, d)

Số liệu trong Bảng 11 là xác suất để nhiệt độ và lượng mưa nhỏ hơn phân vị thứ nhất (trị số ứng với xác suất tích luỹ 33% - ngưỡng của pha hụt chuẩn) và lớn hơn phân vị thứ hai (trị số ứng với xác suất tích luỹ 67% - ngưỡng của pha vượt chuẩn) ở một số trạm chính trên 7 vùng khí hậu của nước ta.

  • Xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) và không khí lạnh (KKL)

Kết quả thống kê trung bình 3 tháng X, XI, XII thời kỳ 1971-2000 có khoảng 5 XTNĐ hoạt động trên khu vực Biển Đông và khoảng 3 cơn ảnh hưởng đến Việt Nam.

Dự báo của Đại học Tổng hợp Luân Đôn (Anh) đối với XTNĐ trong năm 2011 cho thấy: số lượng XTNĐ hoạt động trên khu vực Tây Bắc TBD có khả năng ở mức gần trung bình nhiều năm thời kỳ 1965 – 2010.

Dự báo của IRI đối với XTNĐ trong năm 2011 cho thấy: số lượng bão hoạt động trong mùa bão trên khu vực Tây Bắc TBD (từ tháng 7 đến tháng 10) có khả năng xấp xỉ đến cao hơn trung bình nhiều năm thời kỳ 1965 – 2010 với xác suất khoảng 40%.

Trung bình của thời kỳ 1971 – 2000 thì trong 3 tháng X, XI, XII số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam là khoảng 10 đợt.

Tổng hợp các dự báo về diễn biến của ENSO, diễn biến khí hậu của các Trung tâm dự báo lớn trên thế giới và phân tích các sản phẩm dự báo khí hậu của Trung tâm Nghiên cứu khí tượng - khí hậu, Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, có thể đưa ra một số nhận định sau cho 3 tháng tới:

- Các điều kiện khí quyển và đại dương có khả năng ở trạng thái trung gian nhưng nghiêng về phía pha lạnh (La Nina) trong 3 tháng tới;

- Trên đại bộ phận diện tích cả nước nhiệt độ có khả năng từ thấp hơn đến xấp xỉ trung bình nhiều năm với chuẩn sai dao động chủ yếu từ -0,5 đến 0,5oC;

- Lượng mưa trên phần lớn diện tích cả nước có khả năng xấp xỉ đến cao hơn trung bình nhiều năm với chuẩn sai từ 0 đến trên 200mm, riêng khu vực Trung Trung Bộ lượng mưa có khả năng vượt chuẩn với chuẩn sai dao động từ 200 đến 600mm.

Danh sách các tệp tin đính kèm
 Các tệp tin kèm theo   Tải về 
Bảng số liệu
Full paper
Người đăng tin: Nguyễn Văn Huấn
Nguồn tin: Viện Khoa học KTTV&MT
 
Website trạm đo mưa tự động

Liên kết

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 21
  • Hôm nay: 1288
  • Tháng hiện tại: 171678
  • Tổng lượt truy cập: 12189290

Thành phố lớn trên thế giới

Mực nước hiện tại - Cấp báo động

Dự báo liên hồ chứa