THÔNG BÁO KHÍ TƯỢNG NÔNG NGHIỆP THÁNG III/2011. DỰ BÁO THÁNG IV,V, VI



Thứ tư - 18/05/2011 13:54
I. TÌNH HÌNH KHÍ TƯỢNG THÁNG III/2011 Điều kiện khí tượng nông nghiệp trong tháng III/2011 với nền nhiệt độ và số giờ nắng thấp đã ảnh hưởng bất lợi đối với sự phát triển của cây lúa. Nền nhiệt độ không khí trung bình trong tháng III/2011 tại hầu hết các địa phương ở nước ta phổ biến xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN (-5,1 đến -0,50C) (hình 10).

h10

Lượng mưa trong tháng tại hầu hết các địa phương trong nước ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn TBNN từ 21 đến 372mm (hình 11).

h11

Tổng số giờ nắng tháng ở hầu hết các địa phương của nước ta phổ biến ở mức thấp hơn giá trị TBNN (-162 đến -17 giờ). Độ ẩm không khí trung bình tháng có giá trị phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN từ 5 đến 16%.

h12

h13

h14

Chi tiết về diễn biến tình hình khí tượng tháng III/2011 ở từng vùng của nước ta như sau:

1.1. Diễn biến nhiệt độh1

- Nhiệt độ các khu vực thuộc vùng Tây Bắc ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN (-4,1 đến -1,50C); với giá trị nhiệt độ trung bình tháng dao động từ 11,90C (Sìn Hồ) đến 21,60C (Mường Lay) (hình 10).

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng phổ biến từ 9,40C đến 17,30C, giá trị thấp nhất là 4,20C xảy ra vào ngày 17/III tại Sìn Hồ.

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng từ 15,80C (Sìn Hồ) đến 25,40C (Mường Lay), giá trị cao nhất là 36,20C xảy ra vào các ngày 6/III tại Sông Mã và ngày 21/III tại Yên Châu. Sự biến động của nhiệt độ không khí theo thời gian từ tháng X/2010 đến tháng III/2011 tại trạm đại diện cho vùng Tây Bắc (Điện Biên) được thể hiện trên hình 1.

 

1.2. Diễn biến về mưa

- Tổng lượng mưa tháng III/2011 ở mức cao hơn giá trị TBNN từ 29mm đến 97mm. Có giá trị tổng lượng mưa tháng phổ biến dao động trong khoảng từ 56mm đến 131mm, cao nhất là 158mm tại Tam Đường.

- Lượng mưa ngày cao nhất phổ biến từ 21mm đến 48mm, cao nhất là 54mm xảy ra vào ngày 17/III tại Tuần Giáo.

- Số ngày mưa trong tháng phổ biến từ 6 đến 15 ngày, cao nhất là 19 ngày tại Mộc Châu. Số ngày không mưa liên tục phổ biến từ 3 đến 14 ngày; số ngày mưa liên tục phổ biến từ 4 đến 5 ngày.

Biến trình lượng mưa tháng từ tháng X/2010 đến tháng III/2011 tại Điện Biên được thể hiện trên hình 1.

1.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Số giờ nắng tháng III/2011 phổ biến ở mức thấp hơn giá trị TBNN (-117 giờ đến -22 giờ); giá trị tổng số giờ nắng tháng phổ biến từ 26 giờ đến 99 giờ, cao nhất là 116 giờ (Điện Biên) (hình 12).

- Độ ẩm không khí trung bình tháng III/2011 dao động từ 73% đến 92%, phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc dao động xung quanh giá trị TBNN từ -5 đến 16%. Độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối là 32% xảy ra vào ngày 21/III tại Tuần Giáo và Yên Châu.

- Tổng lượng bốc hơi tháng III/2011 có giá trị phổ biến từ 38mm đến 89mm, cao nhất là 91mm tại Sông Mã. Lượng bốc hơi tháng ở mức xấp xỉ hoặc dao động xung quanh giá trị lượng mưa từ -93mm đến 25mm. Lượng bốc hơi ngày cao nhất ở các nơi đo được phổ biến từ 3 - 8mm.

1.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Gió tây khô nóng xuất hiện một số nơi trong vùng với số ngày dao động từ 1 đến 2 ngày, có cường độ nhẹ;

- Dông xuất hiện ở một số nơi trong vùng với số ngày có dông từ 1 đến 4 ngày;

- Mưa phùn xuất hiện duy nhất tại Mộc Châu với số ngày có mưa phùn là 13 ngày.

2.1. Diễn biến nhiệt độh2

- Nền nhiệt độ tháng III/2011 vùng Việt Bắc ở mức thấp hơn giá trị TBNN (-3,60C đến -2,50C) (hình 10). Diễn biến nhiệt độ trung bình tháng theo thời gian tại Việt Trì được thể hiện trên hình 2;

- Giá trị nhiệt độ không khí trung bình tháng phổ biến từ 10,40C (Sa Pa) đến 17,60C (Lào Cai);

- Giá trị nhiệt độ thấp nhất trung bình từ 8,10C (Sa Pa) đến 15,60C (Lào Cai), nhiệt độ thấp nhất là 0,00C xảy ra vào ngày 16/III tại Sa Pa, đây là giá trị nhiệt độ thấp nhất toàn quốc.

- Nhiệt độ cao nhất trung bình từ 14,00C (Sa Pa) đến 20,90C (Lào Cai), nhiệt độ cao nhất là 29,20C xảy ra vào ngày 21/III tại Chiêm Hoá.

2.2. Diễn biến về mưa

- Tổng lượng mưa tháng ở các địa phương trong vùng chủ yếu từ 72mm đến 139mm, cao nhất là 148mm tại Phú Hộ; ở mức cao hơn giá trị TBNN từ 22mm đến 98mm. Diễn biến của tổng lượng mưa tháng từ tháng X/2010 đến tháng III/2011 ở trạm Việt Trì (đại diện cho vùng Việt Bắc) được thể hiện trên hình 2.

- Giá trị lượng mưa ngày lớn nhất phổ biến từ 24mm đến 39mm, cao nhất là 43mm xảy ra vào ngày 17/III tại Văn Chấn. Số ngày mưa trong tháng dao động phổ biến từ 10 - 25 ngày. Số ngày mưa liên tục phổ biến từ 4 đến 9 ngày, cao nhất là 11 ngày tại Lục Yên. Số ngày không mưa liên tục phổ biến từ 1 đến 8 ngày.

2.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Tổng số giờ nắng tháng III/2011 ở các nơi thuộc Việt Bắc có giá trị phổ biến từ 10 giờ đến 47 giờ, cao nhất là 94 giờ (Mù Căng Chải), phổ biến ở mức thấp hơn giá trị TBNN (-115 giờ đến -24 giờ) (hình 12).

- Độ ẩm không khí trung bình tháng III/2011 phổ biến từ 78 đến 92%; phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc dao động xung quanh giá trị TBNN từ -5% đến 10%. Độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối là 34%, xảy ra vào ngày 28/III tại Hà Giang.

- Lượng bốc hơi tháng ở các nơi trong vùng có giá trị phổ biến từ 28mm đến 78mm, cao nhất là 85mm tại Mù Căng Chải, và có giá trị phổ biến xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị lượng mưa (-116mm đến -24mm). Lượng bốc hơi ngày cao nhất phổ biến từ 2mm đến 7mm, cao nhất là 9mm xảy ra vào ngày 21/III tại Sa Pa, đây là giá trị lượng bốc hơn ngày cao nhất toàn quốc.

2.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Dông xuất hiện 1 ngày duy nhất tại Lục Yên;

- Mưa phùn xuất hiện nhiều nơi trong vùng với số ngày có mưa phùn phổ biến dao động từ 1 đến 11 ngày, cao nhất là 14 ngày tại Sa Pa.

3.1. Diễn biến nhiệt độh3

- Nhiệt độ không khí trung bình tháng ở hầu hết các nơi trong vùng ở mức thấp hơn giá trị TBNN (-3,9 đến -2,80C); có giá trị dao động từ 13,10C (Trùng Khánh - Cao Bằng) đến 17,20C (Uông Bí) (hình 10).

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình từ 16,70C (Trùng Khánh) đến 20,70C (Bảo Lạc), giá trị nhiệt độ cao nhất là 32,30C xảy ra vào ngày 21/III tại Bảo Lạc.

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình từ 10,80C (Trùng Khánh) đến 15,30C (Uông Bí), giá trị nhiệt độ thấp nhất là 5,00C xảy ra vào ngày 17/III tại Trùng Khánh. Biến trình nhiệt độ trung bình tháng theo thời gian tại Phù Liễn được thể hiện trên hình 3.

3.2. Diễn biến về mưa

- Lượng mưa tháng III/2011 dao động phổ biến từ 58mm đến 109mm, cao nhất là 115 mm tại Bắc Giang, ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN từ 21 đến 62mm (hình 11). Giá trị lượng mưa ngày lớn nhất dao động phổ biến từ 18 đến 32mm, cao nhất là 33mm xảy ra vào ngày 17/III tại Bảo Lạc.

- Số ngày mưa trong tháng phổ biến từ 6 - 16 ngày, cao nhất là 21 ngày tại Phù Liễn; số ngày mưa liên tục từ 4 đến 10 ngày; số ngày không mưa liên tục phổ biến từ 3 đến 9 ngày, cao nhất là 11 ngày tại Bảo Lạc. Có thể thấy diễn biến theo thời gian của tổng lượng mưa tháng tại trạm đại diện cho vùng Đông Bắc (trạm Phù Liễn) ở hình 3.

3.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Số giờ nắng tháng III/2011 đo được ở các nơi trong vùng phổ biến ở mức thấp hơn giá trị TBNN (-44 giờ đến -17 giờ) (hình 12) và phổ biến dao động trong khoảng từ 11 giờ (Hữu Lũng và Bắc Giang) đến 40 giờ (Cao Bằng và Trùng Khánh), cao nhất là 45 giờ tại Bảo Lạc.

- Độ ẩm không khí trung bình tháng III/2011 ở các nơi dao động phổ biến từ 79 đến 88%, cao nhất là 91% tại Phù Liễn, phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN (-6 đến -3%), riêng Bảo Lạc cao hơn TBNN 6%; giá trị độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối là 35% xảy ra vào ngày 28/III tại Cao Bằng và Bảo Lạc.

- Lượng bốc hơi tháng phổ biến từ 34mm đến 70mm, cao nhất là 76mm tại Uông Bí. Lượng bốc hơi các khu vực trong vùng ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn lượng mưa (-53 đến -20 mm). Lượng bốc hơi ngày cao nhất từ 3 - 5mm (hình 14).

3.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Mưa phùn xuất hiện nhiều nơi trong vùng với số ngày có mưa phùn phổ biến dao động từ 2 đến 12 ngày, cao nhất là 14 ngày tại Lạng Sơn.

4.1. Diễn biến nhiệt độh4

- Nhiệt độ không khí trung bình tháng ở các nơi trong vùng có giá trị từ 15,80C (Văn Lý) đến 17,10C (Láng, Hà Đông và Ninh Bình), ở mức thấp hơn giá trị TBNN (-3,5 đến -2,60C) (hình 10);

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng từ 17,80C (Văn Lý) đến 20,10C (Ninh Bình), giá trị nhiệt độ cao nhất là 26,60C xảy ra vào ngày 13/III tại Ninh Bình;

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng ở các nơi từ 14,30C (Văn Lý) đến 15,10C (Láng và Sơn Tây), giá trị nhiệt độ thấp nhất là 8,20C xảy ra vào ngày 17/III tại Hưng Yên, Nam Định, Văn Lý và Nho Quan. Biến trình nhiệt độ không khí trung bình tại trạm Láng được thể hiện trên hình 4.

4.2. Diễn biến về mưa

- Tổng lượng mưa tháng phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN từ 26 đến 64mm (hình 11) và có giá trị dao động phổ biến từ 57mm đến 98mm, cao nhất là 106mm tại Láng.

- Lượng mưa ngày lớn nhất phổ biến từ 16 - 32mm, cao nhất là 33mm xảy ra vào ngày 17/III tại Sơn Tây; số ngày mưa trong tháng phổ biến từ 9 đến 20 ngày, cao nhất là 23 ngày tại Văn Lý; số ngày mưa liên tục phổ biến từ 4 đến 5 ngày, cao nhất là 12 ngày tại Văn Lý; số ngày không mưa liên tục phổ biến từ 2 đến 7 ngày, cao nhất là 12 ngày tại Thái Bình. Biến trình tổng lượng mưa tháng tại trạm Láng được thể hiện trên hình 4.

4.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Tổng số giờ nắng tháng III/2011 ở các nơi trong vùng dao động từ 9 giờ (Sơn Tây) đến 25 giờ (Ninh Bình), cao nhất là 27 giờ tại Văn Lý; có giá trị ở mức thấp hơn TBNN (-46 đến -18giờ) (hình 12).

- Độ ẩm không khí trung bình tháng từ 81% (Láng) đến 90% (Văn Lý), phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN (-6% đến -3%) (hình 13); giá trị độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối là 45% xảy ra vào ngày 31/III tại Láng.

- Lượng bốc hơi vùng Đồng bằng Bắc Bộ phổ biến từ 34mm (Sơn Tây) đến 61mm (Ninh Bình), cao nhất là 64 mm tại Hà Đông và Hưng Yên; lượng bốc hơi ngày cao nhất phổ biến từ 2 đến 5mm. Lượng bốc hơi tháng phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị lượng mưa tháng (-64mm đến -23mm).

4.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Mưa phùn xuất hiện hầu hết các nơi trong vùng với số ngày có mưa phùn phổ biến dao động từ 4 đến 16 ngày.

5.1. Diễn biến nhiệt độh5

- Nhiệt độ không khí trung bình tháng ở mức thấp hơn giá trị TBNN (-3,90C đến -2,90C) (hình 10) và có giá trị từ 16,50C (Tĩnh Gia) đến 18,50C (Cửa Rào - Tương Dương).

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng từ 19,00C (Tĩnh Gia và Hà Tĩnh) đến 22,80C (Cửa Rào – Tương Dương), giá trị nhiệt độ cao nhất là 37,60C xảy ra vào ngày 21/III tại Cửa Rào – Tương Dương, đây là giá trị nhiệt độ cao nhất toàn quốc.

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng từ 14,90C (Tĩnh Gia) đến 16,20C (Cửa Rào - Tương Dương), giá trị nhiệt độ không khí thấp nhất là 8,30C xảy ra vào ngày 17/III tại Tĩnh Gia. Biến trình nhiệt độ không khí trung bình tại Vinh được thể hiện trên hình 5.

5.2. Diễn biến về mưa

- Trong tháng III/2011, các giá trị tổng lượng mưa tháng dao động phổ biến từ 50mm đến 111mm, cao nhất là 114mm (Con Cuông). Tổng lượng mưa tháng phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN từ 21mm đến 79mm (hình 11).

- Giá trị lượng mưa ngày lớn nhất phổ biến từ 8 đến 33mm, cao nhất là 36mm xảy ra vào ngày 15/III tại Cửa Rào - Tương Dương.

- Số ngày mưa trong tháng phổ biến từ 10 - 24 ngày; số ngày mưa liên tục phổ biến từ 4 đến 10 ngày. Số ngày không mưa liên tục phổ biến từ 2 đến 8 ngày. Biến trình tổng lượng mưa tháng tại Vinh được thể hiện trên hình 5.

5.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Số giờ nắng trong tháng thấp, dao động phổ biến từ 18 (Hà Tĩnh) đến 39 giờ (Hồi Xuân), ở mức thấp hơn giá trị TBNN từ -60 đến -24 giờ (hình 12).

- Độ ẩm không khí trung bình tháng phổ biến từ 85% (Tương Dương) đến 92% (Hương Khê), phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN từ -4 đến -3%; giá trị độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối là 41% xảy ra vào ngày 21/III tại Tương Dương.

- Tổng lượng bốc hơi tháng phổ biến từ 25mm đến 60mm, cao nhất là 64mm tại Yên Định, lượng bốc hơi ngày lớn nhất phổ biến từ 2 - 5mm. Lượng bốc hơi phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị lượng mưa (-85mm đến -20mm).

5.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Gió tây khô nóng xuất hiện duy nhất tại Tương Dương với số ngày là 2 ngày; trong đó có 1 ngày có cường độ mạnh;

- Dông xuất hiên 1 ngày duy nhất tại Con Cuông;

- Mưa phùn xuất hiện một số nơi trong vùng, với số ngày có mưa phùn từ 1 đến 19 ngày.

6.1. Diễn biến nhiệt độh6

- Nhiệt độ không khí trung bình tháng III/2011 từ 16,70C (Khe Sanh) đến 22,30C (Quảng Ngãi), ở mức thấp hơn giá trị TBNN (-5,10C đến -2,10C) (hình 10). Có thể thấy được biến trình nhiệt độ không khí trung bình tại trạm đại diện cho Trung Trung Bộ (Đà Nẵng) trên hình 6.

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng từ 20,00C (Đồng Hới và Ba Đồn) đến 25,90C (Quảng Ngãi), giá trị nhiệt độ cao nhất là 35,70C xảy ra vào ngày 21/III tại Nam Đông.

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng từ 14,80C (Khe Sanh) đến 19,80C (Quảng Ngãi), giá trị nhiệt độ thấp nhất là 10,30C xảy ra vào ngày 17/III tại Khe Sanh.

6.2. Diễn biến về mưa

- Diễn biến tổng lượng mưa tháng III/2011 phổ biến từ 24mm đến 181mm, cao nhất là 300mm tại Trà My. Phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN từ 37mm đến 263mm.

- Giá trị lượng mưa ngày lớn nhất phổ biến từ 7 đến 50mm, cao nhất là 66mm xảy ra vào ngày 23/III tại Trà My.

- Số ngày mưa trong tháng phổ biến từ 12 đến 22 ngày, cao nhất là 23 ngày tại Đồng Hới; số ngày mưa liên tục phổ biến từ 4 đến 10 ngày; số ngày không mưa liên tục phổ biến từ 3 đến 7 ngày. Có thể thấy biến trình tổng lượng mưa tháng tại Đà Nẵng từ tháng X/2010 đến tháng III/2011 trên hình 6.

6.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Số giờ nắng trong tháng phổ biến từ 46 giờ đến 113 giờ, cao nhất là 119 giờ (Quảng Ngãi), phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN (-118 giờ đến -34 giờ) (Hình 12).

- Độ ẩm không khí trung bình tháng phổ biến từ 82% đến 93%, cao nhất là 94% (Trà My), phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN từ 4% đến 12%; giá trị độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối là 40% xảy ra vào ngày 21/III tại Khe Sanh.

- Tổng lượng bốc hơi tháng dao động phổ biến từ 4mm đến 59mm, cao nhất là 80mm tại Đà Nẵng. Lượng bốc hơi ngày cao nhất phổ biến từ 2 đến 6mm. Tổng lượng bốc hơi tháng phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị lượng mưa (-296mm đến -35mm).

6.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Gió tây khô nóng xuất hiên 1 ngày duy nhất tại Nam Đông với cường độ nhẹ;

- Mưa phùn xuất hiện một vài nơi trong vùng, với số ngày có mưa phùn từ 2 đến 6 ngày.

7. Vùng Nam Trung Bộ

7.1. Diễn biến nhiệt độh7

- Nhiệt độ không khí trung bình tháng III/2011 từ 22,90C (Hoài Nhơn) đến 26,60C (Phan Thiết), phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN từ -1,80C đến -0,80C (hình 10).

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng từ 26,40C (Tuy Hoà) đến 30,50C (Phan Thiết), giá trị nhiệt độ không khí cao nhất là 33,50C xảy ra vào ngày 21/III tại Hoài Nhơn.

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng từ 20,50C (Hoài Nhơn) đến 24,40C (Phan Thiết), giá trị nhiệt độ không khí thấp nhất là 17,40C, xảy ra vào ngày 1/III tại Hoài Nhơn. Biến trình nhiệt độ không khí trung bình tại Nha Trang từ tháng X/2010 đến tháng III/2011 được thể hiện trên hình 7.

7.2. Diễn biến về mưa

- Trong tháng III/2011, lượng mưa tháng ở các địa phương trong vùng phổ biến từ 9mm đến 124mm, cao nhất là 398mm tại Phú Quý, đây là giá trị lượng mưa tháng lớn nhất toàn quốc. Tổng lượng mưa tháng trong vùng phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN từ 44mm đến 372mm. Diễn biến tổng lượng mưa tháng từ tháng X/2010 đến tháng III/2011 tại trạm Quy Nhơn được thể hiện trên hình 7.

- Giá trị lượng mưa ngày lớn nhất phổ biến từ 7mm đến 39mm, cao nhất là 284mm, xảy ra vào ngày 24/III tại Phú Quý, đây là giá trị lượng mưa ngày lớn nhất toàn quốc.

- Số ngày mưa trong tháng ở các địa phương có mưa phổ biến từ 3 đến 16 ngày; số ngày mưa liên tục từ 1 đến 7 ngày; số ngày không mưa liên tục trong tháng phổ biến từ 4 đến 15 ngày.

7.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Tổng số giờ nắng tháng III/2011 thấp, phổ biến từ 97 giờ (Tuy Hoà) đến 168 giờ (Phan Rang), cao nhất là 194 giờ tại Phan Thiết; số giờ nắng trong vùng ở mức thấp hơn giá trị TBNN (-162 giờ đến -116 giờ);

- Độ ẩm không khí trung bình tháng từ 72% (Phan Rang) đến 84% (Hoài Nhơn và Tuy Hoà), phổ biến ở mức xấp xỉ giá trị TBNN (hình 13); giá trị độ ẩm không khí thấp nhất là 46% xảy ra vào ngày 1/III tại Phan Rang.

- Lượng bốc hơi tháng phổ biến từ 80 đến 156mm, cao nhất là 167mm tại Phan Rang. Lượng bốc hơi ngày cao nhất phổ biến từ 5 đến 8mm. Lượng bốc hơi các nơi trong vùng ở mức xấp xỉ hoặc dao động xung quanh giá trị lượng mưa từ -256mm đến 70mm.

8. Vùng Tây Nguyên

8.1. Diễn biến nhiệt độh8

- Giá trị nhiệt độ trung bình tháng III/2011 từ 17,40C (Đà Lạt) đến 24,50C (Ayunpa - Gia Lai); phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN (-2,2 đến -0,60C) (hình 10).

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình từ 22,50C (Đà Lạt) đến 29,50C (Kon Tum), giá trị nhiệt độ không khí cao nhất là 35,60C xảy ra vào ngày 21/III tại Ayunpa.

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình từ 14,50C (Đà Lạt) đến 21,30C (Ayunpa), giá trị nhiệt độ không khí thấp nhất là 11,20C xảy ra vào ngày 14/III tại Đà Lạt. Có thể thấy diễn biến nhiệt độ trung bình tháng từ tháng X/2010 đến tháng III/2011 ở trạm Plây Cu đại diện cho vùng Tây Nguyên trên hình 8.

8.2. Diễn biến về mưa

- Tổng lượng mưa tháng III/2011 phổ biến doa động từ 16mm đến 58mm, cao nhất là 215mm tại Bảo Lộc; phổ biến ở mức xấp xỉ giá trị TBNN, riêng Bảo Lộc cao hơn TBNN 128mm.

- Giá trị lượng mưa ngày lớn nhất phổ biến từ 2mm đến 21mm, cao nhất là 51mm xảy ra ngày 6/III tại Bảo Lộc. Số ngày mưa các nơi trong vùng phổ biến từ 1 đến 15 ngày. Trong đó số ngày không mưa liên tục phổ biến từ 4 đến 24 ngày, số ngày mưa liên tục từ 1 đến 5 ngày. Diễn biến tổng lượng mưa tháng từ tháng X/2010 đến tháng III/2011 tại trạm Plây Cu được thể hiện trên hình 8.

8.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Tổng số giờ nắng tháng III/2011 phổ biến từ 127 giờ (Ayunpa) đến 201 giờ (Plây Cu), cao nhất là 228 giờ tại Kon Tum, ở mức thấp hơn giá trị TBNN (-127 giờ đến -44 giờ) (hình 12).

- Độ ẩm không khí trung bình tháng ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN từ 3% đến 7% (hình 13), có giá trị phổ biến từ 65% (Kon Tum) đến 83% (Đà Lạt và Bảo Lộc); độ ẩm không khí thấp nhất là 11% xảy ra vào ngày 1/III tại Kon Tum, đây là giá trị độ ẩm thấp nhất toàn quốc.

- Tổng lượng bốc hơi tháng phổ biến từ 11mm (Đắk Nông) đến 154mm (Ayunpa), cao nhất là 186mm tại Kon Tum , đây là giá trị tổng lượng bốc hơi tháng cao nhất toàn quốc. Lượng bốc hơi ngày cao nhất phổ biến từ 4 đến 7mm. Lượng bốc hơi ở các nơi trong vùng xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị lượng mưa (-145mm đến -25mm).

8.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Gió tây khô nóng xuất hiện một ngày duy nhất tại Ayunpa với cường độ nhẹ;

- Dông xuất hiện ở một số nơi trong vùng với số ngày có dông từ 1 đến 8 ngày.

9.1. Diễn biến nhiệt độh9

- Nhiệt độ không khí trung bình tháng III/2011 từ 26,20C (Phước Long) đến 28,30C (Tân Sơn Nhất), phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN (-1,20C đến -0,40C), riêng Cà Mau và Tân Sơn Nhất cao hơn TBNN từ 0,4 đến 0,60C (hình 10).

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng từ 30,80C (Vũng Tàu) đến 34,60C (Đồng Phú), giá trị nhiệt độ không khí cao nhất là 36,60C xảy ra vào ngày 13/III tại Đồng Phú.

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng từ 21,80C (Phước Long) đến 25,30C (Vũng Tàu), giá trị nhiệt độ không khí thấp nhất là 19,50C xảy ra vào ngày 30/III tại Phước Long. Hình 9 thể hiện diễn biến của nhiệt độ trung bình tháng từ tháng X/2010 đến tháng III/2011 tại trạm Cần Thơ.

9.2. Diễn biến về mưa

- Ở hầu hết các địa phương trong vùng có tổng lượng mưa tháng III/2011 dao động phổ biến từ 1 đến 145mm, cao nhất là 234mm tại Rạch Giá, phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN từ 30mm đến 198mm.

- Lượng mưa ngày lớn nhất phổ biến dao động từ 2 đến 103mm, cao nhất là 105mm xảy ra vào ngày 23/III tại Bạc Liêu.

- Số ngày mưa trong tháng dao động từ 1 đến 12 ngày; số ngày không mưa liên tục phổ biến từ 4 đến 23 ngày, số ngày mưa liên tục từ 1 đến 8 ngày.

9.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Tổng số giờ nắng tháng III/2011 phổ biến từ 157 giờ (Tân Sơn Nhất) đến 223 giờ (Sóc Trăng), cao nhất là 224 giờ tại Bạc Liêu; ở mức thấp hơn giá trị TBNN (-115 giờ đến -46 giờ) (hình 12).

- Độ ẩm không khí trung bình tháng phổ biến từ 66% (Đồng Phú) đến 81% (Mỹ Tho), phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN từ 3% đến 6% (hình 13). Độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối là 35% xảy ra vào ngày 3/III tại Phước Long.

- Tổng lượng bốc hơi tháng phổ biến từ 97mm đến 146mm, cao nhất là 169mm tại Phước Long (hình 14); lượng bốc hơi ngày cao nhất phổ biến từ 4 đến 8mm, cao nhất là 9mm xảy ra vào ngày 10/III tại Bạc Liêu và ngày 13/III tại Vũng Tàu, đây là giá trị lượng bốc hơn ngày cao nhất toàn quốc, lượng bốc hơi tháng ở mức xấp xỉ hoặc dao động xung quanh giá trị lượng mưa tháng từ -99mm đến 121mm.

9.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Gió tây khô nóng xuất hiện một số nơi trong vùng với số ngày từ 4 đến 8 ngày, có cường độ nhẹ;

- Dông xuất hiện hầu hết các nơi trong vùng với số ngày có dông phổ biến từ 1 đến 8 ngày, cao nhất là 11 ngày tại Mộc Hoá.

II. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN KHÍ TƯỢNG ĐỐI VỚI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
TRONG THÁNG III/2011

Điều kiện khí tượng nông nghiệp trong tháng III/2011 không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp với nền nhiệt độ và số giờ nắng thấp. Trên tất cả các vùng, nhiệt độ trong tháng thấp hơn TBNN, số giờ nắng xấp xỉ hoặc thấp hơn TBNN. Lượng mưa xấp xỉ hoặc cao hơn TBNN nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của cây trồng. Các đợt rét kéo dài và khô hạn đã ảnh hưởng đến lúa đông xuân ở miền Bắc, làm chậm quá trình sinh trưởng, phát triển gây chết nhiều diện tích lúa mới cấy.

Tính đến cuối tháng, cả nước đã gieo cấy được trên 3.073,1 nghìn ha lúa đông xuân; trong đó, các địa phương miền Bắc đã gieo cấy đạt trên 1.095 nghìn ha, xấp xỉ so với cùng kỳ năm 2010.

Các địa phương ở miền Nam, vùng ĐBSCL tập trung thu hoạch lúa đông xuân, diện tích thu hoạch tính đến cuối tháng đạt trên 1 triệu ha, nhanh hơn 13% so với cùng kì. Theo đánh giá của các địa phương, năng suất lúa đông xuân trên diện tích đã thu hoạch đạt khá hơn so với vụ trước. Riêng ở Trà Vinh, Bến Tre, xâm nhập mặn sớm và sâu gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lúa đông xuân; một số diện tích bị mất trắng vì lúa không ngậm sữa do nước quá mặn.

Các tỉnh miềnBắc:

Các tỉnh phía Bắc đã gieo cấy cơ bản xong lúa vụ Đông Xuân 2010-2011. Tính đến cuối tháng, các địa phương miền Bắc gieo cấy đạt trên 1.095 ngàn ha lúa đông xuân, tiến độ đã đạt xấp xỉ cùng kỳ năm trước, trong khi tiến độ gieo cấy tháng trước chỉ mới bằng 76% so với cùng kì. Trong đó, các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng đã gieo cấy đạt 554 ngàn ha, bằng 99,6% cùng kì, các tỉnh vùng Bắc Trung bộ gieo cấy đạt trên 342 ngàn ha, tăng gần 1% so với cùng kỳ năm trước.

Tính từ đầu vụ Đông Xuân đến cuối tháng 3, miền Bắc hứng chịu trên 20 đợt không khí lạnh tăng cường, trong đó có bốn đợt rét đậm, rét hại.

Trong tháng 3, thời tiết tiếp tục có các đợt rét đậm, rét hại đã làm cho một số diện tích mạ và lúa đông xuân mới cấy tại địa bàn các tỉnh miền núi bị thiệt hại nặng.

Đợt gió mùa đông bắc ngày 15/3 có cường độ hiếm thấy trong thời kỳ giữa tháng 3 gây gió mạnh kết hợp với hội tụ gió trên cao làm nhiệt độ giảm mạnh, nhiệt độ trung bình ngày sau 48 giờ giảm 8-9oC gây rét hại ở khu vực Bắc và Trung Trung Bộ.

Do ảnh hưởng của đợt rét đậm, rét hại kéo dài một số diện tích mạ, lúa (khoảng 1.300 ha) tại các tỉnh Lai Châu, Quảng Ninh, Bắc Giang, Lào Cai, Điện Biên, Thái Bình bị chết rét hoặc bị thiệt hại nặng.

Theo kết quả quan trắc ở trạm Nam Định lúa đông xuân đang kỳ đẻ nhánh bị rét hại 11-20%, ở Ninh Bình 31-40%, Thái Bình 51-60%. Nông dân ở các địa phương này đang tích cực tỉa dặm lúa.

Hiện nay, các địa phương chỉ đạo chỉ tiếp tục gieo cấy lúa trên những diện tích có nguồn nước tưới đảm bảo, số còn lại sẽ sớm chuyển sang trồng hoa màu, cây công nghiệp thay thế. Một số tỉnh thuộc địa bàn miền núi trong điều kiện rét kéo dài có thể cho phép dãn thời vụ gieo cấy lúa dài hơn so với mọi năm.

Các địa phương thuộc vùng Đồng Bằng và Duyên Hải Miền Trung tập trung thu hoạch cây trồng vụ đông, tích cực khai thác các nguồn nước sẵn có gieo cấy lúa đông xuân trong khung thời vụ cho phép; đồng thời chăm sóc, bảo vệ diện tích lúa đã cấy và gieo trồng các cây rau, màu vụ đông xuân.

Các tỉnh miền Nam:

Các địa phương thuộc vùng ĐBSCL đang tập trung thu hoạch lúa đông xuân trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi. Tính đến ngày 15/3, các địa phương ở miền Nam đã thu hoạch trên 1 triệu ha lúa đông xuân, nhanh hơn 13% so với tiến độ thu hoạch của cùng kì năm trước. Diện tích thu hoạch chiếm 63% tổng diện tích lúa đông xuân xuống giống.

Theo đánh giá bước đầu của một số địa phương, năng suất lúa đông xuân trên diện tích đã thu hoạch tại vùng ĐBSCL đều khá hơn so với vụ trước.

Song song cùng thu hoạch lúa đông xuân. Một số địa phương đã đồng thời đẩy nhanh tiến độ xuống giống lúa hè thu. Tính đến cuối tháng, vùng ĐBSCL đã xuống giống được 197,5 ngàn ha, nhanh hơn cùng kì năm trước 36,3%. Diện tích lúa hè thu đã xuống giống tăng nhiều ở một số tỉnh, như: Đồng Tháp (52.000 ha/28.000 ha cùng kì); Vĩnh Long (27.000ha/4.000 ha); Cần Thơ (15.000 ha/2.200 ha),...

Ngoài gieo trồng các vụ lúa, các địa phương trên toàn quốc đã gieo trồng cây màu vụ đông xuân. Theo thống kê sơ bộ, tính đến cuối tháng diện tích gieo trồng cây màu vụ đông đạt trên 590 ngàn ha, tăng 5,2% so với cùng kỳ. Trong đó: Diện tích gieo trồng ngô đạt 354 ngàn ha, bằng 92% so với cùng kỳ; khoai lang đạt 83,5 ngàn ha, tăng 6,9%; sắn đạt 141 ngàn ha, tăng 27,8% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng cây công nghiệp ngắn ngày đạt 438 ngàn ha, tăng 13,1% so với cùng kỳ, trong đó diện tích đậu tương đạt 103 ngàn ha, bằng 92%, diện tích lạc đạt 165 ngàn ha, tăng 11,8% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng rau, đậu các loại đạt 406 ngàn ha, tăng 10,7% so với cùng kỳ.

Chè lớn nảy búp hái ở Mộc Châu và Ba Vì, trạng thái sinh trưởng kém đến trung bình. Chè lớn nảy chồi ở Phú Hộ, trạng thái sinh trưởng trung bình.

Cam ở Hoài Đức đang nở hoa, sinh trưởng khá.

Ở Tây Nguyên và Xuân Lộc cà phê trong giai đoạn nở hoa, hình thành quả, trạng thái sinh trưởng trung bình đến tốt.

+ Các tỉnh miền Bắc, Sâu bệnh phát sinh chủ yếu trên lúa giai đoạn mạ, đẻ nhánh, gồm: rầy nâu, rầy lưng trắng, bệnh đạo ôn, sâu cuốn lá nhỏ, chuột và ốc bươu vàng,…

Đáng chú ý có bệnh lùn sọc đen phát sinh và gây hại trên lúa tại các tỉnh Thừa Thiên - Huế và Quảng Trị với diện tích nhiễm 427 ha.

Ngoài các đối tượng sâu bệnh nêu trên còn một số bệnh như: tuyến trùng, nghẹt rễ phát sinh gây hại cục bộ; bọ trĩ, chuột, ốc bươu vàng gây hại nhẹ.

+ Các tỉnh miền Nam, Trong tháng 3, trên lúa đông xuân các đối tượng sâu bệnh xuất hiện và gây hại phổ biến là rầy nâu, bệnh đạo ôn, sâu cuốn lá nhỏ, bệnh khô vằn, chuột… Đặc biệt là bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá tiếp tục phát sinh gây hại trên lúa đông xuân tại một số tỉnh miền Trung với diện tích khoảng 133 ha.

Rầy nâu: Diện tích lúa bị nhiễm trong tháng lên trên 50 ngàn ha, trong đó có 4.138 ha bị nhiễm nặng; tập trung nhiều tại các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Bạc Liêu, Bình Thuận, Sóc Trăng, Tây Ninh, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi...

Sâu cuốn lá nhỏ: Phát sinh gây hại nhẹ, diện tích nhiễm khoảng 16 ngàn ha. Các tỉnh có sâu cuốn lá nhỏ xuất hiện nhiều gồm: Sóc Trăng, Đồng Tháp, Long An, Bạc Liêu, Bình Thuận, Vĩnh Long, Trà Vinh, Quảng Ngãi, Gia Lai...

Bệnh đạo ôn: Đạo ôn lá: Diện tích nhiễm trên 10 ngàn ha, trong đó diện tích nhiễm nặng 227 ha. Các tỉnh có bệnh xuất hiện phổ biến, gồm: Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bình Thuận, Long An, Tây Ninh, Vĩnh Long, Quảng Ngãi, Gia Lai, Bình Định, Quảng Nam...

Đạo ôn cổ bông: Diện tích nhiễm trên 7.600 ha tập trung chủ yếu ở một số tỉnh thuộc vùng ĐBSCL, gồm: Long An, Bạc Liêu, Bình Thuận, Sóc Trăng, An Giang, Trà Vinh, Hậu Giang...

Ngoài ra, còn có các đối tượng khác gây hại như: bệnh khô vằn, lem lép hạt hại cục bộ; bệnh bạc lá, sâu đục thân, bọ trĩ, bệnh vàng lá, bọ xít hôi, chuột, ốc bươu vàng, ... xuất hiện ở mức độ nhẹ.

III. DỰ BÁO THỜI TIẾT TRONG THÁNG IV/2011
VÀ DỰ BÁO KHÍ HẬU 3 THÁNG IV, V và tháng VI/2011

1.1. Nhiệt độ

+ Bắc Bộ:

Nhiệt độ trung bình tháng phổ biến thấp hơn so với giá trị trung bình nhiều năm (TBNN), với giá trị nhiệt độ trung bình tháng phổ biến dao động từ -1,0 đến -2,0oC.

+ Các tỉnh Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ:

Phổ biến ở mức xấp xỉ dưới so với TBNN trong cùng thời kỳ, với giá trị nhiệt độ trung bình tháng thấp hơn giá trị TBNN từ -0,5 đến -1,0oC, riêng phần phía Bắc phổ biến ở mức thấp hơn giá trị TBNN từ -1,0 đến -2,0oC.

+ Các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ:

Phổ biến ở mức xấp xỉ dưới so với TBNN trong cùng thời kỳ, với giá trị nhiệt độ trung bình tháng thấp hơn giá trị TBNN từ -0,5 đến -1,0oC.

1.2. Lượng mưa

+ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ:

Phổ biến ở mức xấp xỉ dưới so với TBNN trong cùng thời kỳ, với lượng mưa thấp hơn giá trị TBNN từ -20 đến -50%, riêng khu Tây Bắc và một số nơi vùng núi phía Bắc ở mức xấp xỉ TBNN cùng thời kỳ, với lượng mưa dao động so với TBNN từ -20 đến +20%.

+ Các tỉnh ven biển Trung Trung Bộ và phía bắc Tây Nguyên:

Tổng lượng mưa phổ biến ở mức xấp xỉ TBNN cùng thời kỳ, với lượng mưa dao động so với TBNN từ -20 đến +20%.

+ Các tỉnh Nam Trung Bộ, phía nam Tây Nguyên và Nam Bộ:

Tổng lượng mưa tháng phổ biến ở mức xấp xỉ trên so với TBNN cùng thời kỳ, với lượng mưa cao hơn TBNN từ 20 đến 50%.

1.3. Thời tiết đặc biệt

Trong tháng IV/2011 có khả năng xảy ra 2-3 đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến các tỉnh miền Bắc, tuy nhiên tháng IV là thời điểm chuyển mùa nên những đợt không khí lạnh ít còn có khả năng gây ra rét đậm ở các tỉnh miền Bắc. Mùa mưa ở các tỉnh Nam Bộ có khả năng đến sớm và bắt đầu từ những ngày cuối tháng IV/2011.

2.1. Nhiệt độ

Kết quả dự báo nhiệt độ 3 tháng IV, V, VI năm 2011 cho thấy, khả năng nhiệt độ thấp hơn TBNN có thể xảy ra trên đa phần diện tích cả nước với với xác suất từ 66 đến 77%. Nhiệt độ có khả năng xấp xỉ TBNN đáng chú ý nhất là ở Bình Thuận và Bà Rịa-Vũng Tàu với xác suất từ 66 đến 77%. Khả năng cao hơn TBNN của nhiệt độ đáng quan tâm nhất là ở TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Trà Vinh với xác suất từ 66 đến trên 77%. Nhiệt độ chủ yếu dao động so với TBNN từ -1 đến 0oC trên hầu hết diện tích cả nước.

2.2. Lượng mưa

Trong ba tháng tới, khả năng lượng mưa thấp hơn TBNN có thể xảy ra chủ yếu ở khu vực Đông Bắc Bộ với xác suất từ 66 đến 77%. Lượng mưa có khả năng xấp xỉ TBNN đáng chú ý nhất là ở Quảng Nam, Kon Tum và Bình Định với xác suất từ 66 đến 77%. Khả năng lượng mưa cao hơn TBNN có thể xảy ra trên đa phần diện tích cả nước với xác xuất từ 66 đến 77%. Lượng mưa trong 3 tháng tới ở mức dao động so với TBNN từ 0 đến 200 mm trên đa phần diện tích cả nước, riêng khu vực Đông Bắc Bộ, lượng mưa trong 3 tháng tới có thể dao động so với TBNN từ -200 đến 0mm.

2.3. Xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) và không khí lạnh (KKL)

Kết quả thống kê trung bình 3 tháng IV, V, VI thời kỳ 1971-2000 cho thấy hoạt động của XTNĐ trên khu vực Biển Đông là khoảng 2 cơn và trong 10 năm có khoảng 1 cơn ảnh hưởng đến Việt Nam.

Theo trung bình của thời kỳ 1971 – 2000 thì trong 3 tháng IV, V, VI số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam là khoảng 6 đợt.

IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Từ thực trạng sản xuất nông nghiệp, trạng thái sinh trưởng phát triển của cây trồng trong tháng III và trên cơ sở dự báo xu thế thời tiết tháng IV/2011 và dự báo khí hậu 3 tháng IV, V và VI/2011 có thể đưa ra một số kiến nghị sau:

1. Miền Bắc

- Tăng cường các biện pháp phòng trừ bệnh đạo ôn, rầy nâu, sâu cuốn lá trên lúa xuân và các loại sâu bệnh trên rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày;

- Tăng cường chăm sóc đảm bảo cho lúa đẻ nhánh, mọc dóng, làm đòng thuận lợi và các cây trồng khác phát triển thuận lợi;

- Tích cực thực hiện các biện pháp chống hạn bảo đảm đủ nước tưới dưỡng cho lúa đông xuân trổ bông vào cuối tháng IV đầu tháng V.

2. Miền Nam

- Tăng cường các biện pháp chống hạn, chống xâm nhập mặn;

- Chăm sóc lúa mùa và lúa xuân đợt muộn đang trong giai đoạn chắc xanh, đảm bảo cho thu hoạch đạt năng suất cao;

- Tích cực phòng trừ sâu bệnh, đặc biệt cần có các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn dich rầy nâu, bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá, bệnh đạo ôn trên lúa và các loại sâu bệnh trên các cây rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày và cây cà phê.

 Danh sách các tệp tin đính kèm

 Các tệp tin kèm theo   Tải về 
BẢNG SL
Người đăng tin: Nguyễn Văn Huấn.ST
Nguồn tin: Theo Viện khoa học KTTV&MT
 
Website trạm đo mưa tự động

Liên kết

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 10
  • Hôm nay: 1472
  • Tháng hiện tại: 171862
  • Tổng lượt truy cập: 12189474

Thành phố lớn trên thế giới

Mực nước hiện tại - Cấp báo động

Dự báo liên hồ chứa