THÔNG BÁO KTNN THÁNG VIII/2011 NHẬN ĐỊNH CÁC TTHÁNG TIẾP THEO



Thứ tư - 12/10/2011 10:16
I. TÌNH HÌNH KHÍ TƯỢNG THÁNG VIII/2011 Nền nhiệt độ không khí trung bình trong tháng VIII/2011 tại hầu hết các địa phương ở nước ta ở mức cao, phổ biến xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN (0,5 đến 1,40C) (hình 10). Lượng mưa trong tháng tại đa phần các địa phương miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN (-367mm đến -21mm), ở hầu hết các địa phương thuộc Nam Bộ và một số nơi thuộc miền Trung ở mức cao hơn TBNN từ 20mm đến 157mm (hình 11). Tổng số giờ nắng tháng ở đa phần các địa phương của nước ta phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN từ 10 giờ đến 80 giờ. Độ ẩm không khí trung bình tháng phổ biến có giá trị ở mức xấp xỉ hoặc dao động xung quanh giá trị TBNN (từ -9% đến 10%).

Chi tiết về diễn biến tình hình khí tượng tháng VIII/2011 ở từng vùng của nước ta như sau:

1. Vùng Tây Bắc

1.1. Diễn biến nhiệt độ

- Nhiệt độ các khu vực thuộc vùng Tây Bắc ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN (0,4 đến 1,10C); với giá trị nhiệt độ trung bình tháng dao động từ 20,00C (Sìn Hồ) đến 28,20C (Hoà Bình) (hình 10).

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng phổ biến từ 17,60C đến 25,00C, giá trị thấp nhất là 14,20C xảy ra vào ngày 27/VIII tại Sìn Hồ.

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng từ 24,00C (Sìn Hồ) đến 33,20C (Sông Mã), giá trị cao nhất là 37,30C xảy ra vào ngày 30/VIII tại Sông Mã. Sự biến động của nhiệt độ không khí theo thời gian từ tháng I đến tháng VIII/2011 tại trạm đại diện cho vùng Tây Bắc (Điện Biên) được thể hiện trên hình 1.

1.2. Diễn biến về mưa

- Tổng lượng mưa tháng VIII/2011 phổ biến ở mức thấp hơn giá trị TBNN từ -384mm đến -30mm. Có giá trị tổng lượng mưa tháng phổ biến dao động trong khoảng từ 115mm đến 293mm, cao nhất là 295mm tại Chi Nê.

- Lượng mưa ngày cao nhất phổ biến từ 16mm đến 74mm, cao nhất là 81mm xảy ra vào ngày 24/VIII tại Phù Yên.

- Số ngày mưa trong tháng phổ biến từ 15 đến 21 ngày, cao nhất là 24 ngày tại Sìn Hồ. Số ngày không mưa liên tục phổ biến từ 4 đến 7 ngày; số ngày mưa liên tục phổ biến từ 4 đến 8 ngày, cao nhất là 17 ngày tại Sìn Hồ.

Biến trình lượng mưa tháng từ tháng I đến tháng VIII/2011 tại Điện Biên được thể hiện trên hình 1.

1.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Số giờ nắng tháng VIII/2011 phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN từ 10 giờ đến 40 giờ; giá trị tổng số giờ nắng tháng phổ biến từ 141 giờ đến 196 giờ, cao nhất là 197 giờ (Sơn La) (hình 12).

- Độ ẩm không khí trung bình tháng VIII/2011 dao động từ 79% đến 88%, phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN (-9% đến - 4%). Độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối là 46% xảy ra vào ngày 29/VIII tại Cò Nòi.

- Tổng lượng bốc hơi tháng VIII/2011 có giá trị phổ biến từ 43mm đến 76mm, cao nhất là 116mm tại Sông Mã. Lượng bốc hơi tháng phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị lượng mưa (-243mm đến -43mm). Lượng bốc hơi ngày cao nhất ở các nơi đo được phổ biến từ 2 - 5mm.

1.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Gió tây khô nóng xuất hiện ở nhiều nơi trong vùng với số ngày dao động phổ biến từ 1 đến 3 ngày, cao nhất là 20 ngày tại Phù Yên; tại Mai Châu có 1 ngày có cường độ mạnh;

- Dông xuất hiện ở khắp nơi trong vùng với số ngày có dông phổ biến từ 4 đến 17 ngày, cao nhất là 18 ngày tại Chi Nê.

2. Vùng Việt Bắc

2.1. Diễn biến nhiệt độ

- Nền nhiệt độ không khí tháng VIII/2011 vùng Việt Bắc phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN (0,40C đến 1,00C) (hình 10). Diễn biến nhiệt độ không khí trung bình tháng theo thời gian tại Việt Trì được thể hiện trên hình 2;

- Giá trị nhiệt độ không khí trung bình tháng phổ biến từ 18,90C (Sa Pa) đến 28,70C (Vĩnh Yên);

- Giá trị nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình từ 16,50C (Sa Pa) đến 26,00C (Vĩnh Yên), nhiệt độ không khí thấp nhất là 13,80C xảy ra vào ngày 26/VIII tại Sa Pa, đây là giá trị nhiệt độ không khí thấp nhất toàn quốc.

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình từ 22,30C (Sa Pa) đến 33,70C (Hà Giang và Bắc Quang), nhiệt độ không khí cao nhất là 37,30C xảy ra vào ngày 31/VIII tại Thái Nguyên.

2.2. Diễn biến về mưa

- Tổng lượng mưa tháng ở các địa phương trong vùng chủ yếu từ 161mm đến 343mm, cao nhất là 350mm tại Vĩnh Yên; tổng lượng mưa tháng ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN (-367mm đến -26mm). Diễn biến của tổng lượng mưa tháng từ tháng I đến tháng VIII/2011 ở trạm Việt Trì (đại diện cho vùng Việt Bắc) được thể hiện trên hình 2.

- Giá trị lượng mưa ngày lớn nhất phổ biến từ 23mm đến 87mm, cao nhất là 134mm xảy ra vào ngày 24/VIII tại Phú Hộ, đây là giá trị lượng mưa ngày lớn nhất toàn quốc. Số ngày mưa trong tháng dao động phổ biến từ 12 - 20 ngày. Số ngày mưa liên tục phổ biến từ 3 đến 15 ngày. Số ngày không mưa liên tục phổ biến từ 4 đến 7 ngày.

2.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Tổng số giờ nắng tháng VIII/2011 ở các nơi thuộc Việt Bắc có giá trị phổ biến từ 98 giờ đến 202 giờ, cao nhất là 203 giờ (Chiêm Hoá), ở mức xấp xỉ hoặc dao động xung quanh giá trị TBNN (-17 giờ đến 32 giờ) (hình 12).

- Độ ẩm không khí trung bình tháng VIII/2011 phổ biến từ 81 đến 91%; phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN (-5% đến -3%). Độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối là 40%, xảy ra vào ngày 30/VIII tại Ngân Sơn, đây là giá trị độ ẩm không khí thấp nhất toàn quốc.

- Lượng bốc hơi tháng ở các nơi trong vùng có giá trị phổ biến từ 40mm đến 101mm, cao nhất là 116mm tại Lào Cai, và có giá trị thấp hơn giá trị lượng mưa (-209mm đến -90mm). Lượng bốc hơi ngày cao nhất phổ biến từ 2mm đến 6mm.

2.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Gió tây khô nóng xuất hiện một số nơi trong vùng với số ngày có gió tây khô nóng dao động từ 1 đến 4 ngày, tại Văn Chấn và Thái Nguyên có 1 ngày có cường độ mạnh;

- Dông xuất hiện khắp nơi trong vùng với số ngày có dông dao động từ 2 đến 15 ngày, cao nhất là 16 ngày tại Hà Giang.

3. Vùng Đông Bắc

3.1. Diễn biến nhiệt độ

- Nhiệt độ không khí trung bình tháng ở các nơi trong vùng ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN (0,3 đến 0,50C); có giá trị dao động từ 25,20C (Trùng Khánh - Cao Bằng) đến 28,40C (Lục Ngạn và Bắc Giang) (hình 10).

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình từ 30,80C (Trùng Khánh) đến 34,30C (Bảo Lạc), giá trị nhiệt độ cao nhất là 38,50C xảy ra vào ngày 31/VIII tại Bảo Lạc, đây là giá trị nhiệt độ không khí cao nhất toàn quốc.

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình từ 22,00C (Trùng Khánh) đến 25,70C (Uông Bí và Bắc Giang), giá trị nhiệt độ không khí thấp nhất là 18,40C xảy ra vào ngày 27/VIII tại Trùng Khánh. Biến trình nhiệt độ không khí trung bình tháng theo thời gian tại Phù Liễn được thể hiện trên hình 3.

3.2. Diễn biến về mưa

- Lượng mưa tháng VIII/2011 dao động phổ biến từ 78mm đến 275mm, cao nhất là 357 mm tại Bãi Cháy, phổ biến ở mức thấp hơn giá trị TBNN (-301mm đến -31mm) (hình 11). Giá trị lượng mưa ngày lớn nhất dao động phổ biến từ 15 đến 81mm, cao nhất là 115mm xảy ra vào ngày 19/VIII tại Bãi Cháy.

- Số ngày mưa trong tháng phổ biến từ 12 - 20 ngày; số ngày mưa liên tục phổ biến từ 4 đến 12 ngày; số ngày không mưa liên tục phổ biến từ 5 đến 7 ngày. Có thể thấy diễn biến theo thời gian của tổng lượng mưa tháng tại trạm đại diện cho vùng Đông Bắc (trạm Phù Liễn) ở hình 3.

3.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Số giờ nắng tháng VIII/2011 đo được ở các nơi trong vùng phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc dao động xung quanh giá trị TBNN (-17 giờ đến 35 giờ) (hình 12) và phổ biến dao động trong khoảng từ 161 giờ (Sơn Động) đến 202 giờ (Lạng Sơn), cao nhất là 212 giờ tại Cao Bằng.

- Độ ẩm không khí trung bình tháng VIII/2011 ở các nơi dao động phổ biến từ 82 đến 88%, cao nhất là 90% tại Phù Liễn, phổ biến ở mức xấp xỉ giá trị TBNN; giá trị độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối là 40% xảy ra vào ngày 30/VIII tại Bảo Lạc và ngày 31/VIII tại Trùng Khánh, cùng với Ngân Sơn, đây là giá trị độ ẩm không khí thấp nhất toàn quốc.

- Lượng bốc hơi tháng phổ biến từ 59mm đến 92mm, cao nhất là 93mm tại Lục Ngạn. Lượng bốc hơi các khu vực trong vùng ở mức thấp hơn lượng mưa (-212 đến -31mm). Lượng bốc hơi ngày cao nhất từ 3 - 6mm (hình 14).

3.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Gió tây khô nóng xuất hiện ở nhiều nơi trong vùng với số ngày có gió tây khô nóng dao động phổ biến từ 1 đến 3 ngày, cao nhất là 10 ngày tại Bảo Lạc; tại Bảo Lạc có 2 ngày có cường độ mạnh và 1 ngày có cường độ mạnh tại Tiên Yên;

- Dông xuất hiện khắp nơi trong vùng với số ngày có dông dao động từ 10 đến 18 ngày.

4. Vùng Đồng bằng Bắc Bộ

4.1. Diễn biến nhiệt độ

- Nhiệt độ không khí trung bình tháng ở các nơi trong vùng có giá trị từ 28,10C (Ninh Bình) đến 28,90C (Láng và Nam Định), ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN (0,4 đến 0,70C) (hình 10);

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng từ 31,60C (Văn Lý) đến 32,70C (Láng và Sơn Tây), giá trị nhiệt độ không khí cao nhất là 37,50C xảy ra vào ngày 31/VIII tại Láng và Ninh Bình;

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng ở các nơi từ 25,00C (Ninh Bình) đến 26,40C (Văn Lý), giá trị nhiệt độ không khí thấp nhất là 22,90C xảy ra vào ngày 24/VIII tại Hải Dương. Biến trình nhiệt độ không khí trung bình tại trạm Láng được thể hiện trên hình 4.

4.2. Diễn biến về mưa

- Tổng lượng mưa tháng phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc dao động xung quanh giá trị TBNN (-227mm đến 38mm) (hình 11) và có giá trị dao động phổ biến từ 101mm đến 363mm, cao nhất là 373mm tại Sơn Tây.

- Lượng mưa ngày lớn nhất phổ biến từ 37 - 91mm, cao nhất là 125mm xảy ra vào ngày 6/VIII tại Phủ Lý; số ngày mưa trong tháng phổ biến từ 14 đến 19 ngày; số ngày mưa liên tục phổ biến từ 4 đến 8 ngày; số ngày không mưa liên tục phổ biến từ 5 đến 7 ngày, cao nhất là 10 ngày. Biến trình tổng lượng mưa tháng tại trạm Láng được thể hiện trên hình 4.

4.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Tổng số giờ nắng tháng VIII/2011 ở các nơi trong vùng dao động từ 152 giờ (Láng) đến 190 giờ (Thái Bình), cao nhất là 197 giờ tại Hải Dương; có giá trị phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn TBNN (11 đến 17giờ) (hình 12).

- Độ ẩm không khí trung bình tháng từ 81% (Láng) đến 88% (Thái Bình), phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN (-5% đến -3%) (hình 13); giá trị độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối là 49% xảy ra vào các ngày 29/VIII tại Phủ Lý và ngày 31/VIII tại Hải Dương.

- Lượng bốc hơi vùng Đồng bằng Bắc Bộ phổ biến từ 52mm (Sơn Tây) đến 83mm (Hải Dương), cao nhất là 93 mm tại Hưng Yên; lượng bốc hơi ngày cao nhất phổ biến từ 3 đến 6mm. Lượng bốc hơi tháng phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị lượng mưa tháng (-321mm đến -80mm).

4.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Gió tây khô nóng xuất hiện nhiều nơi trong vùng với số ngày có gió tây khô nóng dao động từ 1 đến 3 ngày, có cường độ nhẹ;

- Dông xuất hiện khắp nơi trong vùng với số ngày có dông dao động từ 8 đến 15 ngày.

5. Vùng Bắc Trung Bộ

5.1. Diễn biến nhiệt độ

- Nhiệt độ không khí trung bình tháng ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN (0,30C đến 0,60C) (hình 10) và có giá trị từ 27,40C (Hồi Xuân) đến 28,70C (Hà Tĩnh).

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng từ 31,50C (Quỳnh Lưu) đến 33,60C (Cửa Rào – Tương Dương), giá trị nhiệt độ cao nhất là 37,70C xảy ra vào ngày 31/VIII tại Quỳ Châu.

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng từ 24,50C (Tương Dương) đến 26,00C (Hà Tĩnh), giá trị nhiệt độ không khí thấp nhất là 23,00C xảy ra vào ngày 18/VIII tại Tương Dương và ngày 21/VIII tại Như Xuân. Biến trình nhiệt độ không khí trung bình tại Vinh được thể hiện trên hình 5.

5.2. Diễn biến về mưa

- Trong tháng VIII/2011, các giá trị tổng lượng mưa tháng dao động phổ biến từ 40mm đến 300mm, cao nhất là 333mm (Hồi Xuân). Tổng lượng mưa tháng phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc dao động xung quanh giá trị TBNN (-148mm đến 39mm) (hình 11).

- Giá trị lượng mưa ngày lớn nhất phổ biến từ 10 đến 86mm, cao nhất là 131mm xảy ra vào ngày 24/VIII tại Hồi Xuân.

- Số ngày mưa trong tháng phổ biến từ 9 - 20 ngày, cao nhất là 25 ngày tại Quỳ Châu; số ngày mưa liên tục phổ biến từ 3 đến 7 ngày, cao nhất là 9 ngày tại Thanh Hoá và Quỳ Hợp. Số ngày không mưa liên tục phổ biến từ 3 đến 11 ngày. Biến trình tổng lượng mưa tháng tại Vinh được thể hiện trên hình 5.

5.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Số giờ nắng trong tháng dao động phổ biến từ 153 (Hương Khê) đến 208 giờ (Kỳ Anh), cao nhất là 213 giờ (Hà Tĩnh), phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN (14 giờ đến 32 giờ) (hình 12).

- Độ ẩm không khí trung bình tháng phổ biến từ 80% (Hà Tĩnh và Kỳ Anh) đến 89% (Yên Định), phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN (3% đến 5%); giá trị độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối là 42% xảy ra vào ngày 31/VIII tại Quỳ Châu.

- Tổng lượng bốc hơi tháng phổ biến từ 46mm đến 117mm, cao nhất là 186mm tại Vinh, đây là giá trị tổng lượng bốc hơi tháng cao nhất toàn quốc, lượng bốc hơi ngày lớn nhất phổ biến từ 3 - 9mm, cao nhất là 12 mm xảy ra vào ngày 5/VIII tại Kỳ Anh, đây là giá trị lượng bốc hơi ngày lớn nhất toàn quốc. Lượng bốc hơi tháng phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc dao động xung quanh giá trị lượng mưa (-281mm đến 146mm).

5.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Gió tây khô nóng xuất hiện ở nhiều nơi trong vùng với số ngày có gió tây khô nóng dao động từ 1 đến 4 ngày, trong đó có 1 ngày có cường độ mạnh tại Như Xuân và Quỳ Châu;

- Dông xuất hiện ở khắp nơi trong vùng với số ngày có dông dao động từ 5 đến 15 ngày.

6. Vùng Trung Trung Bộ

6.1. Diễn biến nhiệt độ

- Nhiệt độ không khí trung bình tháng VIII/2011 từ 25,10C (Khe Sanh) đến 29,20C (Đà Nẵng), phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN (-0,50C đến -0,30C) (hình 10). Có thể thấy được biến trình nhiệt độ không khí trung bình tại trạm đại diện cho Trung Trung Bộ (Đà Nẵng) trên hình 6.

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng từ 29,00C (Khe Sanh) đến 34,40C (Quảng Ngãi), giá trị nhiệt độ cao nhất là 37,20C xảy ra vào ngày 4/VIII tại Nam Đông.

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng từ 22,80C (Khe Sanh) đến 25,90C (Đà Nẵng), giá trị nhiệt độ thấp nhất là 20,50C xảy ra vào ngày 12/VIII tại Trà My.

6.2. Diễn biến về mưa

- Diễn biến tổng lượng mưa tháng VIII/2011 phổ biến từ 59mm đến 229mm, cao nhất là 279mm tại Khe Sanh. Phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc dao động xung quanh giá trị TBNN (-80mm đến 46mm).

- Giá trị lượng mưa ngày lớn nhất phổ biến từ 21 đến 68mm, cao nhất là 90mm xảy ra vào ngày 20/VIII tại Đà Nẵng.

- Số ngày mưa trong tháng phổ biến từ 7 đến 15 ngày, cao nhất là 25 ngày tại Khe Sanh; số ngày mưa liên tục phổ biến từ 2 đến 5 ngày, cao nhất là 11 ngày tại Khe Sanh; số ngày không mưa liên tục phổ biến từ 2 đến 8 ngày, cao nhất là 11 ngày tại Huế. Có thể xem biến trình tổng lượng mưa tháng tại Đà Nẵng từ tháng I đến tháng VIII/2011 trên hình 6.

6.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Số giờ nắng trong tháng phổ biến từ 142 giờ đến 228 giờ, cao nhất là 231 giờ (Đà Nẵng), phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN (14 giờ đến 40 giờ) (Hình 12).

- Độ ẩm không khí trung bình tháng phổ biến từ 77% đến 86%, cao nhất là 90%, phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN (4% đến 10%); giá trị độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối là 47% xảy ra vào các ngày 9/VIII tại Nam Đông, ngày 10/VIII tại Đà Nẵng và ngày 31/VIII tại Ba Đồn.

- Tổng lượng bốc hơi tháng dao động phổ biến từ 67mm đến 130mm, cao nhất là 145mm tại Đà Nẵng. Lượng bốc hơi ngày cao nhất phổ biến từ 3 đến 8mm, cao nhất là 10mm, xảy ra vào ngày 5/VIII tại Đồng Hới. Tổng lượng bốc hơi tháng phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc dao động xung quanh giá trị lượng mưa (-210mm đến 70mm).

6.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Gió tây khô nóng xuất hiện ở hầu hết các nơi trong vùng với số ngày có gió tây khô nóng dao động phổ biến từ 1 đến 8 ngày, có cường độ nhẹ;

- Dông xuất hiện ở khắp nơi trong vùng với số ngày có dông dao động từ 6 đến 12 ngày.

7. Vùng Nam Trung Bộ

7.1. Diễn biến nhiệt độ

- Nhiệt độ không khí trung bình tháng VIII/2011 từ 27,30C (Phan Thiết) đến 30,20C (Quy Nhơn), phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN từ 0,40C đến 0,60C (hình 10).

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng từ 31,00C (Phú Quý) đến 35,10C (Hoài Nhơn), giá trị nhiệt độ không khí cao nhất là 38,50C xảy ra vào ngày 5/VIII tại Hoài Nhơn, cùng với Bảo Lạc, đây là giá trị nhiệt độ không khí cao nhất toàn quốc.

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng từ 24,90C (Phan Thiết) đến 27,80C (Quy Nhơn), giá trị nhiệt độ không khí thấp nhất là 23,40C, xảy ra vào ngày 20/VIII tại Phan Rang. Biến trình nhiệt độ không khí trung bình tại Nha Trang từ tháng I đến tháng VIII/2011 được thể hiện trên hình 7.

7.2. Diễn biến về mưa

- Trong tháng VIII/2011, lượng mưa tháng ở các địa phương trong vùng phổ biến từ 7mm đến 132mm, cao nhất là 141mm tại Phan Thiết. Tổng lượng mưa tháng trong vùng phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc dao động xung quanh giá trị TBNN (-54 đến 81mm). Diễn biến tổng lượng mưa tháng từ tháng I đến tháng VIII/2011 tại trạm Quy Nhơn được thể hiện trên hình 7.

- Giá trị lượng mưa ngày lớn nhất phổ biến từ 2mm đến 32mm, cao nhất là 50mm, xảy ra vào ngày 7/VIII tại Nha Trang.

- Số ngày mưa trong tháng ở các địa phương phổ biến từ 8 đến 16 ngày; số ngày mưa liên tục từ 2 đến 6 ngày; số ngày không mưa liên tục trong tháng phổ biến từ 4 đến 12 ngày.

7.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Tổng số giờ nắng tháng VIII/2011 ở các nơi trong vùng phổ biến từ 270 giờ (Phú Quý) đến 293 giờ (Nha Trang), cao nhất là 298 giờ tại Tuy Hoà, đây là giá trị tổng số giờ nắng tháng cao nhất toàn quốc; số giờ nắng trong vùng phổ biến ở mức cao hơn giá trị TBNN (39 giờ đến 80 giờ);

- Độ ẩm không khí trung bình tháng từ 71% (Quy Nhơn) đến 84% (Phú Quý), cao nhất là 85% tại Phan Thiết, phổ biến ở mức xấp xỉ giá trị TBNN (hình 13); giá trị độ ẩm không khí thấp nhất là 41% xảy ra vào ngày 17/VIII tại Tuy Hoà.

- Lượng bốc hơi tháng phổ biến từ 116mm đến 149mm, cao nhất là 168mm tại Quy Nhơn. Lượng bốc hơi ngày cao nhất phổ biến từ 6 đến 7mm, cao nhất là 10mm, xảy ra vào ngày 5/VIII tại Quy Nhơn. Lượng bốc hơi các nơi trong vùng ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị lượng mưa từ 20mm đến 131mm.

7.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Gió tây khô nóng xuất hiện ở nhiều nơi trong vùng với số ngày có gió tây khô nóng dao động phổ biến từ 1 đến 16 ngày, có cường độ nhẹ;

- Dông xuất hiện ở hầu hết các nơi trong vùng với số ngày có dông dao động từ 1 đến 5 ngày, cao nhất là 10 ngày tại Phan Thiết.

8. Vùng Tây Nguyên

8.1. Diễn biến nhiệt độ

- Giá trị nhiệt độ không khí trung bình tháng VIII/2011 từ 19,10C (Đà Lạt) đến 26,80C (Ayunpa - Gia Lai); phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN (0,3 đến 1,40C) (hình 10).

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình từ 23,80C (Đà Lạt) đến 32,00C (Ayunpa), giá trị nhiệt độ không khí cao nhất là 34,30C xảy ra vào ngày 20/VIII tại Ayunpa.

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình từ 16,50C (Đà Lạt) đến 24,00C (Ayunpa), giá trị nhiệt độ không khí thấp nhất là 14,30C xảy ra vào ngày 25/VIII tại Đà Lạt. Có thể xem diễn biến nhiệt độ trung bình tháng từ tháng I đến tháng VIII/2011 ở trạm Plây Cu đại diện cho vùng Tây Nguyên trên hình 8.

8.2. Diễn biến về mưa

- Tổng lượng mưa tháng VIII/2011 phổ biến dao động từ 195mm đến 303mm, cao nhất là 381mm tại Plây Cu. Phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc dao động xung quanh giá trị TBNN (-270mm đến 53mm).

- Giá trị lượng mưa ngày lớn nhất phổ biến từ 30mm đến 65mm, cao nhất là 98mm xảy ra vào ngày 22/VIII tại Ayunpa. Số ngày mưa các nơi trong vùng phổ biến từ 23 đến 30 ngày. Trong đó số ngày không mưa liên tục phổ biến từ 1 đến 3 ngày, số ngày mưa liên tục phổ biến từ 9 đến 22 ngày, cao nhất là 27 ngày tại Kon Tum. Diễn biến tổng lượng mưa tháng từ tháng I đến tháng VIII/2011 tại trạm Plây Cu được thể hiện trên hình 8.

8.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Tổng số giờ nắng tháng VIII/2011 phổ biến từ 151 giờ (Plây Cu) đến 196 giờ (Buôn Ma Thuột), cao nhất là 204 giờ tại Ayunpa, phổ biến ở mức cao hơn giá trị TBNN (30 giờ đến 44 giờ) (hình 12).

- Độ ẩm không khí trung bình tháng phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN (-5% đến -3%) (hình 13), có giá trị phổ biến từ 82% (Kon Tum) đến 91% (Plây Cu); độ ẩm không khí thấp nhất là 48% xảy ra vào ngày 26/VIII tại Kon Tum.

- Tổng lượng bốc hơi tháng phổ biến từ 35mm (Đắk Nông) đến 63mm (Kon Tum), cao nhất là 108mm tại Ayunpa. Lượng bốc hơi ngày cao nhất phổ biến từ 2 đến 6mm. Lượng bốc hơi ở các nơi trong vùng thấp hơn giá trị lượng mưa (-224mm đến -160mm).

8.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Dông xuất hiện khắp nơi trong vùng với số ngày có dông từ 6 đến 16 ngày, cao nhất là 20 ngày tại Buôn Ma Thuột.

9. Vùng Nam Bộ

9.1. Diễn biến nhiệt độ

- Nhiệt độ không khí trung bình tháng VIII/2011 từ 26,30C (Phước Long) đến 28,20C (Vũng Tàu và Mộc Hoá), phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN (0,40C đến 1,20C) (hình 10).

- Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng từ 29,30C (Bạc Liêu) đến 33,80C (Tân Sơn Nhất), giá trị nhiệt độ không khí cao nhất là 35,80C xảy ra vào ngày 9/VIII tại Tân Sơn Nhất.

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng từ 23,10C (Phước Long) đến 25,90C (Bạc Liêu), giá trị nhiệt độ không khí thấp nhất là 22,00C xảy ra vào ngày 6/VIII tại Phước Long. Hình 9 thể hiện diễn biến của nhiệt độ trung bình tháng từ tháng I đến tháng VIII/2011 tại trạm Cần Thơ.

9.2. Diễn biến về mưa

- Tổng lượng mưa tháng VIII/2011 dao động phổ biến từ 114mm đến 423mm, cao nhất là 463mm tại Rạch Giá, đây là giá trị tổng lượng mưa tháng cao nhất toàn quốc, ở mức xấp xỉ hoặc dao động xung quanh giá trị TBNN (-112mm đến 157mm).

- Lượng mưa ngày lớn nhất phổ biến dao động từ 32mm đến 101mm, cao nhất là 133mm xảy ra vào ngày 27/VIII tại Sóc Trăng.

- Số ngày mưa trong tháng dao động từ 18 đến 23 ngày; số ngày không mưa liên tục phổ biến từ 1 đến 6 ngày; số ngày mưa liên tục phổ biến từ 5 đến 11 ngày, cao nhất là 13 ngày, tại Sóc Trăng.

9.3. Diễn biến về số giờ nắng, độ ẩm không khí và tổng lượng bốc hơi tháng

- Tổng số giờ nắng tháng VIII/2011 phổ biến từ 167 giờ (Cà Mau) đến 233 giờ (Cần Thơ), cao nhất là 238 giờ tại Vũng Tàu; phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN (17 giờ đến 65 giờ) (hình 12).

- Độ ẩm không khí trung bình tháng phổ biến từ 80% (Tân Sơn Nhất) đến 87% (Càng Long và Sóc Trăng), phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị TBNN (-6% đến -3%) (hình 13). Độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối là 45% xảy ra vào ngày 20/VIII tại Đồng Phú.

- Tổng lượng bốc hơi tháng phổ biến từ 63mm đến 100mm, cao nhất là 112mm tại Rạch Giá (hình 14); lượng bốc hơi ngày cao nhất phổ biến từ 3 đến 6mm, lượng bốc hơi tháng ở mức thấp hơn giá trị lượng mưa tháng (-359mm đến -64mm).

9.4. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Gió tây khô nóng xuất hiện một vài nơi với số ngày từ 1 đến 4 ngày, có cường độ nhẹ;

- Dông xuất hiện ở khắp nơi trong vùng với số ngày có dông phổ biến từ 4 đến 18 ngày, cao nhất là 19 ngày tại Càng Long.

II. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN KHÍ TƯỢNG ĐỐI VỚI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG THÁNG VIII/2011

Thời tiết trong tháng VIII khá thuận lợi đối với sản xuất nông nghiệp. Nhiệt độ không khí trung bình từ 19-30oC, phổ biến xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN nhưng không còn cao như trong tháng VII, nằm trong ngưỡng thích hợp đối với cây lúa đang kỳ đẻ nhánh-mọc dóng và các cây trồng khác. Trừ một số nơi ở Việt Bắc có số giờ nắng thấp (3,2giờ/ngày) và Nam Trung Bộ có số giờ nắng cao (trên 9 giờ/ngày); các địa phương có số giờ nắng từ 6-8giờ. Mưa và nắng đủ, lượng bốc hơi xấp xỉ và thấp hơn lượng mưa ở hầu hết các vùng trên toàn quốc.

Miền Bắc cơ bản hoàn thành kế hoạch gieo cấy lúa mùa, đạt 1.140 ngàn ha. Các địa phương đang tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ lúa và các cây rau, màu vụ hè thu/mùa.

Miền Nam tập trung thu hoạch nhanh gọn lúa hè thu, tiếp tục gieo cấy lúa mùa, thu đông và gieo trồng rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày vụ hè thu/mùa. Tính đến giữa tháng, miền Nam đã thu hoạch được 1.221 ngàn ha lúa hè thu, sản lượng ước đạt xấp xỉ 6,7 triệu tấn.

1. Đối với cây lúa

Lúa mùa: Thời tiết trong tháng thuận lợi cho hoàn thành gieo cấy, chăm sóc lúa mùa và thuận lợi cho lúa mùa sinh trưởng, phát triển. Hiện nay, tại các tỉnh miền Bắc, trừ một số địa bàn vùng miền núi còn rải rác gieo cấy thêm lúa nương, lúa ở các chân ruộng cao, các địa phương đang tập trung làm cỏ, bón phân, tưới nước cho lúa trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi. Trà lúa mùa cực sớm và sớm đang ở giai đoạn đứng cái, làm đòng; trà lúa chính vụ và muộn đang ở giai đoạn đẻ nhánh. Nhìn chung lúa tốt đều nhờ điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi.

Tính đến giữa tháng VIII, tổng diện tích gieo cấy lúa mùa cả nước đạt 1.432,8 ngàn ha, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo cấy ở các tỉnh miền Bắc đạt 97,3% so với cùng kỳ năm trước; các tỉnh phía Nam, đã tích cực triển khai xuống giống lúa mùa đạt gần 300 ngàn ha, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước.

Lúa hè thu: Tại địa bàn Bắc Trung Bộ, mặc dù chịu ảnh hưởng do lúa đông xuân thu hoạch muộn, song vẫn gieo cấy đạt diện tích khá hơn vụ trước. Lúa hè thu hiện nay chủ yếu đang ở giai đoạn cuối làm đòng, trỗ. Lúa hè thu ở nhiều địa phương phát triển tốt, triển vọng cho năng suất cao.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ lúa xuân hè đang cho thu hoạch, lúa hè thu trà sớm chuẩn bị cho thu hoạch, hè thu đại trà đang ở giai đoạn trỗ, hè thu muộn đẻ nhánh - đứng cái.

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), lúa hè thu đang ở thời kỳ thu hoạch rộ trong điều kiện thời tiết thuận lợi. Tính đến cuối tháng VIII, các địa phương đã thu hoạch đạt hơn 1,2 triệu ha, chiếm 62,3% diện tích xuống giống. Một số địa phương có tiến độ thu hoạch nhanh như Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp đạt 100% diện tích; An Giang, Long An, Tiền Giang thu hoạch từ 60-80% diện tích. Theo đánh giá của nhiều địa phương lúa hè thu năm nay tiếp tục được mùa, được giá.

Lúa thu đông: Diện tích lúa thu đông năm nay tăng mạnh. Tổng diện tích xuống giống đạt gần 360 ngàn ha, tăng khoảng 140 ngàn ha so với vụ trước. Một số địa phương như Cần Thơ, Vĩnh Long,... đạt diện tích xuống giống vượt nhiều so với kế hoạch và đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Tuy nhiên, lũ ở thượng nguồn tiếp tục đổ mạnh về các tỉnh miền Tây như An Giang, Đồng Tháp… đe dọa hàng ngàn hecta lúa vụ thu đông. Một số địa phương nước lũ dâng ngập đọt lúa nên nông dân không thể chăm sóc lúa.

2. Đối với các loại rau màu và cây công nghiệp

Nắng nhiều, nhiệt độ thích hợp, mưa đều trên cả nước tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất rau màu.

Các địa phương tiếp tục gieo trồng và thu hoạch rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày vụ hè thu và vụ mùa. Tính đến cuối tháng, tổng diện tích gieo trồng các cây màu lương thực trong cả nước đạt hơn 1,6 triệu ha, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý là diện tích ngô đạt gần 960 ngàn ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 3,8%, khoai lang đạt 132 ngàn ha, tăng 7,9%, sắn đạt 484 ngàn ha, tăng 13,5%.

Tổng diện tích cây công nghiệp ngắn ngày đạt 648 ngàn ha, trong đó diện tích lạc đạt 213 ngàn ha, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước, riêng đậu tương và thuốc lá giảm so với cùng kỳ, đậu tương đạt 168 ngàn ha, bằng 94,1%; thuốc lá đạt gần 20 ngàn ha, bằng 75% so với cùng kỳ năm trước. Rau đậu các loại đạt gần 663 ngàn ha, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước.

Tại Hoài Đức ngô phun râu, sinh trưởng khá trên nền đất tương đối khô, bị ảnh hưởng rất nặng của gió lớn. Cam ra lá mới, sinh trưởng trung bình trên nền đất quá ẩm.

Chè lớn nảy chồi ở Mộc Châu, sinh trưởng khá trên nền đất tương đối khô. Chè lớn nảy chồi ở Phú Hộ, lá thật 1 ở Ba Vì; sinh trưởng trung bình, trên nền đất ẩm trung bình.

Cà phê trong giai đoạn hình thành quả, sinh trưởng tốt ở Tây Nguyên, sinh trưởng trung bình ở Xuân Lộc.

3. Tình hình sâu bệnh

Nhiệt độ cao, độ ẩm không khí trung bình tháng phổ biến có giá trị từ 71-91%, mưa nhiều cũng là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh hại phát triển.

+ Các tỉnh phía Bắc: Theo báo cáo của Cục Bảo vệ thực vật, các ổ dịch lùn sọc đen phát sinh chủ yếu trên lúa tại các tỉnh Duyên hải Bắc Trung bộ và miền núi; rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu cuốn lá nhỏ phát sinh gây hại trên diện rộng, cụ thể như sau:

- Bệnh lùn sọc đen: Tổng diện tích bị nhiễm trên 200 ha tại các tỉnh Thừa Thiên - Huế, Nghệ An, Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình, Cao Bằng và Lạng Sơn, trong đó tập trung nhiều tại Thừa Thiên - Huế 55 ha, Lai Châu 100 ha, Sơn La 22 ha, Hoà Bình 21 ha. Tỷ lệ nhiễm bệnh trung bình tại các địa bàn đều dưới mức 5%.

- Rầy nâu và rầy lưng trắng: Diện tích nhiễm trên 24 ngàn ha, trong đó nhiễm nặng khoảng 1 ngàn ha. Tập trung nhiều tại các tỉnh Sơn La, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Bắc Ninh, Hà Nam, Nam Định, Lai Châu, Thái Nguyên, Phú Thọ, Hưng Yên, Thái Bình, Ninh Bình, Quảng Ninh, Hải Dương.

- Sâu cuốn lá nhỏ: Diện tích nhiễm gần 40 ngàn ha, trong đó nhiễm nặng khoảng 3 ngàn ha, gồm sâu trưởng thành lứa 5 vũ hoá rộ và sâu non hại diện rộng trên lúa sớm - mùa trung. Mật độ phổ biến từ 3-5 con/m2 tập trung chủ yếu tại các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ và Trung du, miền núi, gồm: Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hải Dương, Hà Nam, Hưng Yên, Yên Bái, Tuyên Quang; các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Sơn La, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hoà Bình, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Ninh Bình, Thái Bình, Quảng Ninh và Hải Phòng.

- Ngoài ra còn có các bệnh đạo ôn lá, bọ trĩ, đốm sọc vi khuẩn, sâu năn, chuột, ốc bươu vàng,…gây hại trên diện hẹp.

+ Các tỉnh phía Nam: Sâu bệnh phát sinh chủ yếu trên lúa hè thu giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng và trỗ bông. Đáng chú ý là diện tích nhiễm rầy nâu và đạo ôn lá giảm nhiều so với cùng kì năm trước, trong khi bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, đạo ôn cổ bông, sâu cuốn lá nhỏ đang có chiều hướng tăng.

- Rầy nâu: Diện tích nhiễm trên 59 ngàn ha, giảm 53,8 ngàn ha so với cùng kì năm trước, xuất hiện phổ biến ở: Bạc Liêu, Long An, Lâm Đồng, Sóc Trăng, Hậu Giang, Vĩnh Long...

- Bệnh đạo ôn:

+ Đạo ôn lá: Diện tích nhiễm trên 36 ngàn ha, giảm 18,5 ngàn ha so với cùng kì năm trước, tỷ lệ bệnh phổ biến 5 -10%, nơi cao 20% diện tích. Các tỉnh có bệnh xuất hiện nhiều gồm: Long An, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Kiên Giang, Đồng Tháp...

+ Đạo ôn cổ bông: Diện tích nhiễm gần 12 ngàn ha, tăng 4.725 ha so với cùng kì năm trước, tỷ lệ bệnh phổ biến 5-10%, nơi cao 20%, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Long An, Đồng Nai, Hậu Giang, Tiền Giang...

- Sâu cuốn lá nhỏ: Diện tích nhiễm trên 28 ngàn ha, tăng 1.554 ha so với cùng kì năm trước, phân bố chủ yếu ở các tỉnh Vĩnh Long, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Đồng Tháp, Kiên Giang...

- Bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá: Tổng diện tích lúa bị nhiễm bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá là 3.040 ha, tăng 3.000 ha so với cùng kì năm trước, trong đó diện tích nhiễm nhẹ 2.740 ha (tỷ lệ bệnh từ 3-10%); nhiễm trung bình 210 ha (tỷ lệ bệnh trên 10-20%); nhiễm nặng 90 ha (tỷ lệ bệnh trên 20-50%). Bệnh xuất hiện chủ yếu ở các tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bến Tre, Vũng Tàu và Long An.

Ngoài ra, còn có các bệnh lem lép hạt, đốm vằn, bạc lá; ốc bươu vàng, chuột, sâu đục thân, bọ trĩ... xuất hiện rải rác, mức độ gây hại nhẹ.

III. DỰ BÁO THỜI TIẾT TRONG THÁNG IX/2011 VÀ DỰ BÁO KHÍ HẬU 3 THÁNG IX, X VÀ THÁNG XI/2011

1. Về kết quả dự báo thời tiết trong tháng IX/2011

1.1. Nhiệt độ

+ Bắc Bộ: Nhiệt độ không khí trung bình tháng phổ biến xấp xỉ trên so với trung bình nhiều năm (TBNN), với giá trị nhiệt độ không khí trung bình tháng phổ biến cao hơn giá trị TBNN 0,5 đến 1,0oC.

+ Các tỉnh Trung Bộ: Phổ biến ở mức xấp xỉ giá trị TBNN, với giá trị nhiệt độ không khí trung bình tháng dao động so với TBNN trong khoảng (-0,5 đến 0,5oC).

+ Các tỉnh Tây Nguyên và Nam Bộ: Nền nhiệt độ ở mức xấp xỉ so với giá trị TBNN, với giá trị nhiệt độ không khí trung bình tháng dao động so với TBNN trong khoảng (-0,5 đến 0,5oC).

1.2. Lượng mưa

+ Bắc Bộ: Lượng mưa ở Bắc Bộ phổ biến ở mức xấp xỉ dưới so với TBNN cùng thời kỳ, với giá trị tổng lượng mưa tháng thấp hơn TBNN từ 20 đến 50%.

+ Các tỉnh ven biển Trung Bộ: - Bắc Trung Bộ: lượng mưa phổ biến ở mức xấp xỉ dưới so với TBNN, với giá trị tổng lượng mưa tháng thấp hơn TBNN từ 20 đến 50%.

- Trung Trung Bộ: lượng mưa phổ biến ở mức xấp xỉ với TBNN, với giá trị tổng lượng mưa tháng dao động từ: -20 đến +20% so với TBNN.

- Nam Trung Bộ: lượng mưa phổ biến ở mức xấp xỉ trên so với TBNN cùng thời kỳ, với giá trị tổng lượng mưa tháng cao hơn TBNN từ 20 đến 50%.

+ Các tỉnh Tây Nguyên và Nam Bộ: Tổng lượng mưa tháng ở Tây Nguyên phổ biến ở mức xấp xỉ trên so với TBNN, với giá trị tổng lượng mưa tháng cao hơn TBNN từ 20 đến 50%; khu vực Nam Bộ có tổng lượng mưa tháng ở mức xấp xỉ với TBNN (dao động từ: -20 đến +20%).

1.3. Thời tiết đặc biệt

Trong tháng IX/2011 có khả năng chịu ảnh hưởng từ 1-2 xoáy thuận nhiệt đới và có khả năng xảy ra 3-4 đợt mưa vừa, mưa to, mưa có khả năng tập trung nhiều ở các tỉnh ven biển Bắc Bộ và Trung Trung Bộ.

2. Về kết quả dự báo khí hậu 3 tháng IX, X và tháng XI/2011

2.1. Nhiệt độ

Kết quả dự báo nhiệt độ 3 tháng IX, X, XI năm 2011 cho thấy, khả năng nhiệt độ thấp hơn TBNN có thể xảy ra ở Điện Biên, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Kon Tum, Gia Lai, Ninh Thuận, Bình Phước và đa phần diện tích Tây Nam Bộ với xác suất từ 66 đến 77%. Nhiệt độ có khả năng xấp xỉ TBNN đáng chú ý xảy ra ở Sơn La và Bình Định với xác suất khoảng 66%. Khả năng cao hơn TBNN của nhiệt độ có thể xảy ra ở Hà Giang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi và Khánh Hòa với xác suất từ 66 đến 77%. Nhiệt độ chủ yếu dao động so với TBNN từ (-0,5 đến 0,5oC) trên hầu hết diện tích cả nước.

2.2. Lượng mưa

Trong ba tháng tới, khả năng lượng mưa thấp hơn TBNN tập trung chủ yếu ở đa phần diện tích Bắc Bộ, Quảng Ngãi và Gia Lai với xác suất từ 66 đến 77%. Lượng mưa có khả năng xấp xỉ TBNN đáng chú ý nhất là ở Tây Ninh với xác suất từ 66 đến 77%. Khả năng lượng mưa cao hơn TBNN có thể xảy ra ở đa phần diện tích Bắc Trung Bộ, khu vực tỉnh Bình Phước và vùng biển từ Sóc Trăng đến Cà Mau với xác xuất từ 66 đến 77%. Lượng mưa trong 3 tháng tới chủ yếu dao động so với TBNN từ (-200mm đến 0 mm) trên đa phần diện tích thuộc Bắc Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; từ (0mm đến trên 400mm) trên đa phần diện tích khu vực từ Nghệ An đến Quảng Nam và khu vực Nam Bộ.

 

2.3. Xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) và không khí lạnh (KKL)

Kết quả thống kê trung bình 3 tháng IX, X, XI thời kỳ 1971-2000 có khoảng 6 XTNĐ hoạt động trên khu vực Biển Đông và khoảng 4 cơn ảnh hưởng đến Việt Nam.

Theo kết quả dự báo XTNĐ của Đại học Tổng hợp Luân Đôn (Anh) trong năm 2011 cho thấy: số lượng XTNĐ hoạt động trên khu vực Tây Bắc TBD có khả năng ở mức gần trung bình nhiều năm thời kỳ 1965 – 2010.

Theo kết quả dự báo XTNĐ của IRI trong năm 2011 cho thấy: số lượng bão hoạt động trong mùa bão trên khu vực Tây Bắc TBD (từ tháng VII đến tháng X) có khả năng xấp xỉ đến trên trung bình nhiều năm thời kỳ 1965 – 2010 với xác suất khoảng 40%.

Theo trung bình của thời kỳ 1971 – 2000 thì trong 3 tháng IX, X, XI số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam là khoảng 9 đợt.

IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Từ thực trạng sản xuất nông nghiệp, trạng thái sinh trưởng phát triển của cây trồng trong tháng VIII, trên cơ sở dự báo xu thế thời tiết tháng IX/2011 và dự báo khí hậu 3 tháng IX, X và XI/2011 có thể đưa ra một số kiến nghị sau:

1. Miền Bắc

- Tình hình khí tượng nông nghiệp trong tháng nhìn chung khá thuận lợi đối với sản xuất nông nghiệp, nhiệt độ không khí trung bình xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN, nằm trong ngưỡng thích hợp đối với cây lúa đang thời kỳ đẻ nhánh - mọc dóng và các cây trồng khác;

- Do các điều kiện khí tượng nông nghiệp trong tháng thuận lợi cho sâu bệnh hại phát triển, các địa phương tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ lúa và các cây rau, màu vụ hè thu và vụ mùa.

- Trong những tháng tiếp theo, ở các tỉnh ven biển miền Bắc và miền Trung có khả năng xảy ra 3 đến 4 đợt mưa vừa, mưa to nên các địa phương chú ý đề phòng lũ lụt, ngập úng đối với lúa mùa và các loại cây rau màu.

2. Miền Nam

- Theo kết quả dự báo những tháng tiếp theo thì nền nhiệt độ, lượng mưa ở đa phần diện tích các tỉnh miền Nam đều ở mức xấp xỉ giá trị TBNN, đó là những điều kiện khí tượng nông nghiệp thuận lợi cho lúa và các loại cây trồng phát triển.

- Tích cực phòng trừ các loại sâu bệnh hại trên lúa hè thu đang trong giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng và trỗ bông và các cây rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày và cây cà phê.

 

Danh sách các tệp tin đính kèm
 Các tệp tin kèm theo   Tải về 
BANG SL
Người đăng tin: Nguyễn Văn Huấn
Nguồn tin: Viện Khoa học KTTV&MT
 
Website trạm đo mưa tự động

Liên kết

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 27
  • Hôm nay: 1298
  • Tháng hiện tại: 171688
  • Tổng lượt truy cập: 12189300

Thành phố lớn trên thế giới

Mực nước hiện tại - Cấp báo động

Dự báo liên hồ chứa